Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành Chuẩn chương trình đào tạo về đường sắt trình độ đại học nhằm thiết lập khung yêu cầu tối thiểu đối với các chương trình đào tạo nhân lực cho lĩnh vực này.
Theo đó, chuẩn chương trình quy định toàn diện từ mục tiêu, chuẩn đầu vào – đầu ra, khối lượng học tập, cấu trúc và nội dung đào tạo đến phương pháp giảng dạy, kiểm tra đánh giá, cũng như các điều kiện bảo đảm chất lượng như đội ngũ giảng viên, cơ sở vật chất, công nghệ và học liệu, cùng lộ trình cải tiến nâng cao chất lượng đào tạo.
Đồng thời, Chuẩn đầu ra cũng yêu cầu người học đạt năng lực toàn diện về kiến thức, kỹ năng, mức độ tự chủ và trách nhiệm; trong đó nhấn mạnh khả năng ứng dụng công nghệ thông tin, công nghệ hiện đại, dữ liệu lớn, trí tuệ nhân tạo và tư duy hệ thống.
Theo đại diện một số cơ sở giáo dục đại học, trong bối cảnh Chính phủ đang thúc đẩy mạnh các dự án đường sắt quy mô lớn, đây không chỉ là giải pháp cho bài toán thiếu hụt nhân lực trước mắt mà còn là bước chuẩn bị dài hạn cho năng lực công nghệ và công nghiệp đường sắt quốc gia.
Cơ sở pháp lý quan trọng, tạo bước tiến trong đào tạo nhân lực chất lượng cao ngành đường sắt
Trao đổi với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Xuân Phương - Hiệu trưởng Trường Đại học Giao thông vận tải Thành phố Hồ Chí Minh cho rằng, Chuẩn chương trình đào tạo về đường sắt trình độ đại học được Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành rất kịp thời, là cơ sở pháp lý quan trọng giúp các cơ sở đào tạo rất thuận lợi trong công tác xây dựng và phát triển các chương trình đào tạo cho ngành đường sắt.
Chuẩn chương trình đưa ra các yêu cầu chung, yêu cầu tối thiểu về bảo đảm chất lượng để các cơ sở đào tạo thực hiện chuẩn hóa, đổi mới chương trình đào tạo. Từ đó, tạo bước tiến trong việc thúc đẩy đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cho ngành đường sắt theo Đề án “Đào tạo, phát triển nguồn nhân lực đường sắt Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045” được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 2230/QĐ-TTg ngày 09/10/2025.
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Xuân Phương - Hiệu trưởng Trường Đại học Giao thông Vận tải Thành phố Hồ Chí Minh.Ảnh website nhà trường.
Việc thực hiện đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao sớm, thể hiện tầm nhìn của Đảng và Nhà nước cho sự phát triển ngành đường sắt trong tương lai gần, bao gồm trục đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam, trục đường sắt tốc độ cao Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng; mạng lưới đường sắt đô thị tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh đang triển khai thực hiện và nhiều tuyến đường sẽ sớm hình thành trong tương lai.
Theo thầy Nguyễn Xuân Phương, Trường Đại học Giao thông vận tải Thành phố Hồ Chí Minh đã và đang thực hiện nội dung chuẩn đầu ra này. Trong năm học vừa qua, nhà trường đã yêu cầu tất cả các chương trình đào tạo (bao gồm các chương trình thuộc lĩnh vực đường sắt) triển khai cập nhật chuẩn đầu ra này. Việc này nhằm thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước và xu hướng phát triển công nghệ như vũ bão của thế giới, đặc biệt là các công nghệ tiên tiến.
Đồng thời, các chuẩn đầu ra này là yêu cầu cấp thiết theo Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, cũng như mang ý nghĩa rất quan trọng trong đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao theo yêu cầu của thời đại. Do đó, không chỉ riêng ngành đường sắt, mà hầu hết tất cả các ngành đào tạo lĩnh vực kỹ thuật, công nghệ và kinh doanh - quản lý,… đều cần cập nhật, bổ sung.
Là cơ sở giáo dục đại học đào tạo một số ngành cốt lõi trong danh mục các ngành đào tạo nhân lực đường sắt, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Bùi Phú Doanh - Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Xây dựng Hà Nội nhấn mạnh, việc ban hành Chuẩn chương trình đào tạo là một cú hích pháp lý và chuyên môn rất quan trọng tới giáo dục đại học nói chung và nhà trường nói riêng.
Cụ thể, điều này giúp các cơ sở giáo dục đại học có một thước đo chung, có hệ quy chiếu chuẩn mực để chuẩn hóa nội dung, đảm bảo dù đào tạo chất lượng kỹ sư đầu ra đáp ứng được yêu cầu khắt khe của ngành đường sắt. Với Trường Đại học Xây dựng Hà Nội, đây là cơ hội để nhà trường khẳng định vị thế tiên phong trong đào tạo nhân lực ngành đường sắt. Ngay khi có chủ trương, trường đã là một trong những đơn vị đầu tiên chủ động nhập cuộc, không đợi đến khi có dự án mới bắt đầu mà đã chuẩn bị sẵn sàng từ trước đó.
Thực tế, việc đào tạo nhân lực đường sắt cần có lộ trình vì phụ thuộc chặt chẽ vào nhu cầu thị trường. Việc áp dụng Chuẩn chương trình giúp nhà trường chuẩn hóa lộ trình cho sinh viên chuyên ngành Đường sắt tốc độ cao và Đường sắt đô thị hiện nay. Đây sẽ là nguồn nhân lực hạt nhân, vừa có tư duy hệ thống, vừa có kỹ năng thực tế để tiếp quản các công nghệ hiện đại khi trục đường sắt Bắc - Nam được triển khai.
Theo thầy Doanh, ngành đường sắt không chỉ là xây dựng hạ tầng mà là một hệ sinh thái phức tạp gồm vận hành, thiết bị, điện khí hóa và quản lý. Do đó, tư duy hệ thống và làm việc liên ngành là bắt buộc.
Việc Chuẩn chương trình nhấn mạnh tính liên ngành là hướng đi mà Trường Đại học Xây dựng Hà Nội đã thực hiện từ lâu. Nhà trường đã chủ động tích hợp điều này thông qua việc thiết kế chương trình linh hoạt cho nhiều đối tượng:
Đối với sinh viên chính quy, trường đào tạo chuyên sâu về chuyên ngành Đường sắt tốc độ cao và Đường sắt đô thị, trang bị cho các em kiến thức đa dạng để sau khi tốt nghiệp có thể làm việc ở nhiều mảng từ thiết kế, thi công đến quản lý.
Ngoài ra, Trường Đại học Xây dựng Hà Nội đã tiên phong áp dụng mô hình đào tạo theo đơn đặt hàng của các tập đoàn lớn như Vinaconex hay Coninco. Nhà trường tùy biến chương trình dựa trên nền tảng sẵn có của học viên (kỹ thuật giao thông, xây dựng) và tích hợp sâu các khối kiến thức về thi công, tư vấn giám sát đặc thù.
Hơn nữa, việc tích hợp kiến thức phụ trợ thông qua mô hình đào tạo thực chiến cũng được trường chú trọng. Với các lớp kỹ sư thi công của Vinaconex hay tư vấn giám sát của Coninco, nhà trường không chỉ dạy lý thuyết xây dựng thuần túy, mà tích hợp sâu các khối kiến thức về vận hành, điện khí hóa và quản lý dự án đặc thù. Việc đào tạo dựa trên nền tảng sẵn có của người học kết hợp với các học phần chuyên sâu theo chuẩn mới giúp sinh viên của trường có khả năng thích ứng linh hoạt, đáp ứng đúng "đơn đặt hàng" khắt khe của doanh nghiệp và thời đại.
Chương trình đào tạo các ngành phụ trợ – liên ngành cần được thiết kế theo hướng tích hợp
Cùng chia sẻ về Chuẩn chương trình đào tạo về đường sắt trình độ đại học, theo Tiến sĩ Nguyễn Hồng Vũ - Trưởng khoa Công nghệ thông tin, Trường Đại học Công Thương Thành phố Hồ Chí Minh, trong bối cảnh Chính phủ đang thúc đẩy mạnh các dự án đường sắt quy mô lớn, đặc biệt là tuyến đường sắt Bắc – Nam, nhu cầu nhân lực sẽ tăng rất nhanh trong khoảng từ 5 cho đến 20 năm tới.
Theo nhiều dự báo và đề án phát triển ngành, Việt Nam có thể cần hàng chục đến hàng trăm nghìn nhân sự chất lượng cao cho các lĩnh vực thiết kế, thi công, vận hành, bảo trì, điều độ, công nghệ tín hiệu và quản trị hệ thống đường sắt hiện đại. Vì vậy, việc ban hành chuẩn đào tạo lúc này có ý nghĩa chiến lược, giúp các trường đại học chủ động mở ngành, cập nhật chương trình và phối hợp với doanh nghiệp để đào tạo “đúng người – đúng năng lực – đúng nhu cầu thị trường”. Đây không chỉ là giải pháp cho bài toán thiếu hụt nhân lực trước mắt mà còn là bước chuẩn bị dài hạn cho năng lực công nghệ và công nghiệp đường sắt quốc gia.
Tiến sĩ Nguyễn Hồng Vũ – Trưởng khoa Khoa Công nghệ Thông tin, Trường Đại học Công Thương Thành phố Hồ Chí Minh. Ảnh: Website nhà trường.
Hiện nay, Khoa Công nghệ thông tin của Trường Đại học Công Thương Thành phố Hồ Chí Minh đang đào tạo các ngành Công nghệ thông tin, An toàn thông tin, Khoa học dữ liệu, Trí tuệ nhân tạo nằm trong danh mục ngành phụ trợ - liên ngành thuộc các ngành trình độ đại học về đường sắt.
Theo thầy Vũ, các ngành phụ trợ – liên ngành này sẽ giữ vai trò nền tảng trong hệ sinh thái đường sắt hiện đại. Nếu trước đây ngành đường sắt chủ yếu tập trung vào xây dựng hạ tầng và cơ khí vận hành, thì hiện nay xu hướng của thế giới là phát triển “đường sắt thông minh”, nơi mọi hoạt động từ điều hành chạy tàu, tín hiệu điều khiển, giám sát an toàn đến quản trị vận hành đều dựa trên công nghệ số và dữ liệu. Việc Bộ Giáo dục và Đào tạo đưa các ngành công nghệ này vào nhóm ngành phụ trợ – liên ngành trong chuẩn đào tạo cho thấy định hướng rất rõ về đào tạo nguồn nhân lực đường sắt theo mô hình tích hợp giữa kỹ thuật giao thông và công nghệ số.
Các ngành phụ trợ sẽ hỗ trợ rất mạnh cho các ngành cốt lõi thông qua việc phát triển các nền tảng công nghệ và hệ thống vận hành thông minh. Chẳng hạn, ngành Công nghệ thông tin có thể tham gia xây dựng hệ thống điều hành chạy tàu, phần mềm quản lý vé điện tử, trung tâm điều độ vận tải, hệ thống giám sát hạ tầng đường sắt theo thời gian thực hay các nền tảng quản trị dữ liệu tập trung phục vụ vận hành toàn mạng lưới. Ngành Trí tuệ nhân tạo có thể hỗ trợ phân tích dữ liệu cảm biến để dự báo hư hỏng đường ray, đầu máy hoặc toa xe nhằm bảo trì chủ động, giảm rủi ro sự cố và tối ưu chi phí vận hành. Khoa học dữ liệu giúp phân tích lưu lượng hành khách, tối ưu lịch trình và năng lực khai thác tuyến. Trong khi đó, An toàn thông tin sẽ giữ vai trò bảo vệ các hệ thống tín hiệu điều khiển, trung tâm dữ liệu và hạ tầng số của ngành đường sắt trước các nguy cơ tấn công mạng hoặc mất an toàn dữ liệu.
Chính sự phối hợp giữa các ngành cốt lõi và các ngành phụ trợ công nghệ sẽ giúp sinh viên hình thành tư duy liên ngành và năng lực giải quyết các bài toán phức tạp trong hệ sinh thái đường sắt hiện đại. Sinh viên không chỉ được trang bị kiến thức chuyên môn về kỹ thuật đường sắt mà còn có khả năng ứng dụng công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn và tự động hóa vào vận hành, quản lý và tối ưu hệ thống. Đây sẽ là nền tảng quan trọng để đào tạo đội ngũ nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu phát triển đường sắt thông minh và hội nhập quốc tế trong tương lai.
Thầy Vũ nhấn mạnh, chương trình đào tạo các ngành phụ trợ – liên ngành cần được thiết kế theo hướng tích hợp và gắn chặt với các bài toán thực tiễn của ngành đường sắt thay vì đào tạo tách rời theo từng chuyên môn riêng lẻ. Sinh viên các ngành Công nghệ thông tin, Trí tuệ nhân tạo, An toàn thông tin, Khoa học dữ liệu hay các ngành phụ trợ khác cần được tiếp cận sớm với kiến thức nền tảng về hệ thống đường sắt, vận hành giao thông, tín hiệu điều khiển và quản trị hạ tầng để hiểu rõ đặc thù của ngành mà mình hỗ trợ.
Bên cạnh kiến thức chuyên môn cốt lõi, chương trình đào tạo các ngành phụ trợ – liên ngành nên được thiết kế theo hướng dùng chung nền tảng kiến thức với các ngành cốt lõi của đường sắt, đồng thời tăng cường học phần tích hợp và các dự án liên ngành. Sinh viên các ngành công nghệ không chỉ học kiến thức chuyên môn riêng mà cần được tiếp cận các tình huống vận hành thực tế của ngành đường sắt thông qua mô hình mô phỏng, phòng thí nghiệm, đồ án tích hợp và học kỳ doanh nghiệp. Các học phần cũng nên được xây dựng theo hướng phối hợp giữa nhiều khoa chuyên môn để sinh viên có cơ hội làm việc nhóm, cùng giải quyết một bài toán chung từ góc nhìn kỹ thuật, công nghệ và quản trị vận hành. Cách thiết kế này sẽ giúp người học hình thành tư duy hệ thống, khả năng phối hợp đa ngành và thích ứng nhanh với môi trường làm việc thực tế của hệ sinh thái đường sắt hiện đại.
Ngoài ra, cần đẩy mạnh mô hình đào tạo gắn với doanh nghiệp và hệ sinh thái thực hành. Các trường đại học nên phối hợp với doanh nghiệp đường sắt, đơn vị vận hành metro, trung tâm điều độ hoặc các tập đoàn công nghệ để sinh viên được tham gia thực tập, dự án mô phỏng và nghiên cứu ứng dụng kiến thức được đào tạo vào các bài toán thực tế ngay trong quá trình học. Điều này sẽ giúp rút ngắn khoảng cách giữa đào tạo và nhu cầu thực tế của thị trường lao động.
Về lâu dài, cách thiết kế chương trình theo hướng liên ngành sẽ giúp hình thành đội ngũ kỹ sư và chuyên gia có khả năng làm việc trong môi trường đường sắt thông minh, nơi hạ tầng giao thông, công nghệ số, dữ liệu và tự động hóa được tích hợp chặt chẽ với nhau. Đây cũng là xu hướng đào tạo nhân lực mà nhiều quốc gia đang áp dụng cho các hệ thống đường sắt hiện đại và tốc độ cao.