Chính phủ đã ban hành Nghị định số 93/2026/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Nhà giáo, trong đó không còn chia giáo viên mầm non và phổ thông thành các hạng đang thu hút sự quan tâm của đội ngũ giáo viên.
Từ thực tiễn giảng dạy, người viết là giáo viên nhận thấy việc thay đổi này tháo gỡ nhiều vướng mắc phát sinh khi thực hiện các Thông tư số 01, 02, 03, 04/2021/TT-BGDĐT (được sửa đổi bởi Thông tư 08/2023/TT-BGDĐT) quy định mã số, tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp và bổ nhiệm, xếp lương viên chức giảng dạy trong các trường mầm non và phổ thông công lập.
Trước khi Nghị định số 93/2026/NĐ-CP được ban hành, tại dự thảo Nghị định quy định chi tiết một số điều của Luật Nhà giáo 2025 chia giáo viên thành ba hạng: giáo viên, giáo viên chính và giáo viên cao cấp.
Tuy nhiên, khi Nghị định số 93/2026/NĐ-CP chính thức được ban hành, cách tiếp cận này đã không được lựa chọn.
Cụ thể, Điều 3 Nghị định số 93/2026/NĐ-CP quy định chức danh nhà giáo trong cơ sở giáo dục bao gồm: giáo viên mầm non, giáo viên tiểu học, giáo viên trung học cơ sở, giáo viên trung học phổ thông.
Hiện nay, giáo viên mầm non và phổ thông chia thành hạng I, II, III dựa theo tiêu chuẩn, quy định tại các Thông tư số 01, 02, 03, 04/2021/TT-BGDĐT.
Có thể khẳng định, việc bỏ chia hạng giáo viên là phù hợp với thực tiễn, bởi vì dù ở hạng nào, giáo viên vẫn thực hiện các nhiệm vụ giống nhau như giảng dạy, giáo dục học sinh và thực hiện các nhiệm vụ khác do hiệu trưởng phân công.
Các công việc như chủ nhiệm lớp, tổ trưởng hoặc tổ phó chuyên môn hay tham gia hoạt động chuyên môn khác chỉ là nhiệm vụ kiêm nhiệm và đều được tính chế độ, không làm thay đổi bản chất nghề nghiệp của giáo viên.
Việc cùng làm một công việc nhưng chia thành ba hạng tạo ra sự phân tầng mang tính hành chính, trong khi không có sự khác biệt rõ ràng về công việc giữa giáo viên hạng III, hạng II và hạng I trong hoạt động giảng dạy hằng ngày.
Một bất cập lớn nằm ở cơ chế thăng hạng, đó là tại Công văn số 64/BNV-CCVC về việc xác định cơ cấu ngạch công chức và cơ cấu hạng chức danh nghề nghiệp viên chức quy định việc bổ nhiệm và xếp hạng phải bảo đảm tỷ lệ hạng I không quá 10%, hạng II không quá 50%, hạng III và tương đương trở xuống không quá 40%, khiến việc thăng hạng phụ thuộc vào chỉ tiêu cơ cấu của đơn vị thay vì dựa vào năng lực giáo viên.
Tại nhiều địa phương, xảy ra tình trạng giáo viên đủ điều kiện nhưng không được thăng hạng do đã hết chỉ tiêu, dẫn đến nghịch lý có quy định thăng hạng nhưng không phải ai đủ điều kiện cũng được thăng, đồng thời không có cơ chế "giáng hạng".
Việc không có cơ chế "giáng hạng" khiến giáo viên sau khi được thăng hạng đương nhiên giữ nguyên hạng, dù năng lực hoặc hiệu quả công việc không đảm bảo. Vì vậy, việc chia hạng không phản ánh đúng năng lực giảng dạy của đội ngũ giáo viên.
Hơn nữa, trong quá trình triển khai, hệ thống văn bản cũng có nhiều thay đổi, từ các Thông tư số 01, 02, 03, 04/2021/TT-BGDĐT đến Thông tư số 34/2021/TT-BGDĐT quy định tiêu chuẩn, điều kiện thi hoặc xét thăng hạng và sau đó là Thông tư số 08/2023/TT-BGDĐT sửa đổi, bổ sung, gây khó khăn trong quá trình thực hiện tại cơ sở và cơ quan quản lí giáo dục.
Một vấn đề khác là sự chênh lệch giữa thành tích giáo viên và cơ chế thăng hạng. Chẳng hạn, khi giáo viên được tặng bằng khen cấp Nhà nước có thể được xét nâng lương trước thời hạn tối đa 12 tháng, các thành tích khác được xét nâng lương trước từ 6 đến 9 tháng. Nhưng theo Thông tư số 08/2023/TT-BGDĐT, giáo viên nếu đáp ứng điều kiện, chẳng hạn có bằng thạc sĩ, có thể được xét thăng từ hạng III lên hạng II. Ví dụ, một giáo viên đang hưởng hệ số lương 3,33, khi được thăng hạng sẽ được chuyển lên hệ số 4,0. So sánh hai cơ chế cho thấy sự chênh lệch rõ ràng, thành tích thực tế trong giảng dạy chỉ được ghi nhận bằng việc nâng lương sớm vài tháng, trong khi yếu tố văn bằng lại có thể dẫn đến thay đổi lớn về hệ số lương thông qua thăng hạng.
Từ thực tế giảng dạy cho thấy, việc không còn chia hạng giúp giảm áp lực về hồ sơ và thủ tục, giáo viên không còn phụ thuộc vào chỉ tiêu cơ cấu khi xét thăng hạng, phù hợp với đặc điểm công việc của giáo viên khi nhiệm vụ chính là giảng dạy và giáo dục học sinh.
Việc bỏ phân hạng cũng đặt ra yêu cầu mới về đánh giá giáo viên, theo đó việc đánh giá cần dựa vào năng lực chuyên môn, kết quả giảng dạy và sự tiến bộ của học sinh, thay vì danh xưng hành chính.
Tài liệu tham khảo:
https://thuvienphapluat.vn/van-ban/Giao-duc/Nghi-dinh-93-2026-ND-CP-huong-dan-Luat-Nha-giao-699941.aspx
https://thuvienphapluat.vn/van-ban/Bo-may-hanh-chinh/Thong-tu-08-2023-TT-BGDDT-sua-doi-Thong-tu-01-2021-TT-BGDDT-02-2021-TT-BGDDT-514067.aspx
(*) Văn phong, nội dung bài viết thể hiện góc nhìn, quan điểm của tác giả.