Thông tư 13/2024/TT-BGDĐT của Bộ Giáo dục và Đào tạo về quy định tiêu chuẩn, điều kiện xét thăng hạng chức danh nghề nghiệp giáo viên mầm non, phổ thông công lập và giáo viên dự bị đại học chính thức có hiệu lực vào tháng 12/2024. Sau hơn một năm triển khai, thực tế cho thấy vẫn còn nhiều thách thức, đặc biệt trong việc áp dụng tiêu chí, lập hồ sơ và xử lý cơ chế chỉ tiêu, khiến quá trình xét thăng hạng tại các địa phương cũng gây không ít tâm tư.
Cơ chế phân bổ chỉ tiêu
Trao đổi với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, thầy Nông Thế Huân - Hiệu trưởng Trường Trung học phổ thông Đồng Văn (xã Đồng Văn, tỉnh Tuyên Quang) cho biết: “Thông tư 13 được xây dựng với hệ thống tiêu chí khá đầy đủ nhằm bảo đảm việc thăng hạng giáo viên dựa trên trình độ, năng lực và quá trình cống hiến, tuy nhiên quá trình triển khai thực tế gặp một số vướng mắc.
Trong đó, vấn đề lớn nhất không nằm ở chất lượng hay năng lực của giáo viên, mà ở cơ chế phân bổ chỉ tiêu thăng hạng do địa phương quyết định. Chính việc bị khống chế bởi số lượng này khiến nhiều nơi không thể xét thăng hạng cho tất cả giáo viên đủ điều kiện, dẫn tới tình trạng kết quả thăng hạng chưa phản ánh đúng thực chất năng lực và mức độ đóng góp của đội ngũ, đặc biệt ở các trường liên cấp.
Bởi đối với các trường liên cấp, việc xét thăng hạng thường được triển khai theo thứ tự, trong đó khối trung học cơ sở được ưu tiên triển khai trước. Khi đến lượt khối trung học phổ thông, số lượng chỉ tiêu còn lại rất hạn chế. Hệ quả là có những giáo viên đã hoàn thiện đầy đủ hồ sơ, đáp ứng đủ tiêu chuẩn về bằng cấp, chứng chỉ, thành tích chuyên môn, nhưng vẫn không được xét thăng hạng chỉ vì ‘hết suất’.
Đơn cử tại nhà trường, năm vừa qua chỉ có hơn 20 giáo viên được thăng hạng, tương đương gần 50% đội ngũ, trong khi thực tế số người đủ điều kiện nhiều hơn con số đó. Điều này ít nhiều tạo ra cảm giác thiệt thòi và thiếu công bằng cho những giáo viên còn lại, bởi họ không bị loại vì năng lực yếu hay thiếu cố gắng, mà chỉ vì bị ràng buộc bởi giới hạn chỉ tiêu”.
Theo thầy Huân, bất cập này càng trở nên rõ rệt ở những địa bàn vùng cao, vùng đặc biệt khó khăn. Bởi tại đây, giáo viên phải đối mặt với rất nhiều thách thức từ điều kiện sinh hoạt thiếu thốn, đi lại khó khăn, áp lực vừa dạy chữ vừa duy trì sĩ số lớp. Dù vậy, đội ngũ giáo viên vẫn nỗ lực bám trường, bám lớp, hoàn thành tốt nhiệm vụ chuyên môn và nhiều công việc khác.
Trong bối cảnh ấy, việc được thăng hạng không chỉ đơn thuần là một bước tiến về nghề nghiệp, mà còn là sự ghi nhận. Vì vậy, nếu giáo viên đã đủ số năm công tác, đáp ứng đầy đủ tiêu chí theo quy định của Bộ, thì họ cần được xét thăng hạng một cách bình đẳng, thay vì phải “xếp hàng” chờ chỉ tiêu.
“Tôi cho rằng xét thăng hạng về bản chất có ý nghĩa lớn trong việc tạo động lực cho đội ngũ. Khi giáo viên thấy rằng nỗ lực của mình được ghi nhận đúng mức, họ sẽ có thêm niềm tin để tiếp tục phấn đấu, trau dồi chuyên môn, đổi mới phương pháp giảng dạy và cống hiến lâu dài cho nhà trường. Ngược lại, nếu đủ điều kiện nhưng vẫn bị trì hoãn vì cơ chế chỉ tiêu sẽ gây hụt hẫng là điều khó tránh khỏi. Điều này không chỉ ảnh hưởng đến cá nhân giáo viên, mà về lâu dài còn tác động tới chất lượng đội ngũ và sự ổn định của nhà trường.
Từ thực tiễn ấy, tôi mong muốn cơ chế xét thăng hạng theo Thông tư 13 cần được tiếp tục rà soát, điều chỉnh theo hướng linh hoạt và sát thực tế hơn. Việc bảo đảm những giáo viên đủ điều kiện đều có cơ hội được thăng hạng không chỉ là vấn đề quyền lợi, mà còn là cách để giữ chân và khích lệ đội ngũ, đặc biệt ở những vùng còn nhiều khó khăn. Khi công tác xét thăng hạng thực sự công bằng và minh bạch, nó sẽ trở thành động lực mạnh mẽ giúp giáo viên yên tâm gắn bó với nghề và cống hiến nhiều hơn cho sự nghiệp giáo dục”, thầy Huân bày tỏ.
Cùng bàn vấn đề này, thầy Nguyễn Xuân Thịnh - Hiệu trưởng Trường Trung học cơ sở Chương Xá (xã Hùng Việt, tỉnh Phú Thọ) cho biết, việc xét thăng hạng giáo viên hiện nay đang được thực hiện theo Thông tư 13 của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Sau hơn một năm thực hiện, các địa phương đã rút ra nhiều bài học kinh nghiệm, nhưng đồng thời cũng gặp phải không ít thách thức trong quá trình triển khai thực tế.
Về cơ bản, Thông tư 13 được xây dựng với hệ thống tiêu chí khá đầy đủ, nhằm bảo đảm việc xét thăng hạng dựa trên năng lực, trình độ và quá trình cống hiến của giáo viên. Đây là một cơ chế cần thiết để ghi nhận nỗ lực và thành tích của đội ngũ, đồng thời tạo động lực cho giáo viên tiếp tục nâng cao chất lượng giảng dạy.
Tuy nhiên trong triển khai thực tế, không phải là vấn đề năng lực hay thành tích của giáo viên, mà nằm ở cơ chế phân bổ chỉ tiêu và cơ cấu đội ngũ do địa phương giao. Cơ chế này giới hạn tỷ lệ giáo viên được xếp hạng II hoặc hạng I trong mỗi trường, dẫn tới việc nhiều giáo viên đủ tiêu chuẩn nhưng vẫn phải chờ đợi để được xét thăng hạng.
“Tại nhà trường thầy, tình hình thực tế cũng phản ánh rõ những khó khăn này. Dù nhiều giáo viên đã hoàn tất các tiêu chí chuyên môn, hồ sơ đầy đủ và có thành tích tốt, nhưng do bị khống chế tỷ lệ chỉ tiêu như hạng II không quá 50% nên nhà trường không thể xếp hết số giáo viên đủ điều kiện trong cùng một đợt. Điều này tạo ra cảm giác thiệt thòi, ảnh hưởng trực tiếp tới quyền lợi và động lực của thầy cô.
Đặc biệt, với những địa phương mới sát nhập hoặc đang điều chỉnh cơ cấu quản lý, tình trạng bộ máy còn chồng chéo, thiếu thống nhất khiến việc triển khai càng khó khăn hơn. Hiện trường vẫn phải chờ các văn bản chỉ đạo mới từ Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh, khiến công tác xét thăng hạng bị trì hoãn, trong khi quyền lợi và thu nhập của giáo viên phụ thuộc trực tiếp vào kết quả này”, thầy Thịnh nêu quan điểm.
Thầy Thịnh bày tỏ, trong quá trình xếp hạng, nhà trường phải dựa vào thứ tự thành tích từ cao xuống thấp, còn các yếu tố như thâm niên chỉ được xem xét như một “tiêu chí mềm” khi thành tích ngang bằng và việc “nhường” cho nhau cũng rất khó thực hiện, vì đây là quyền lợi trực tiếp liên quan tới từng cá nhân.
Do đó, để giải quyết vấn đề này, thầy Thịnh cho rằng cần có sự điều chỉnh, có thể là nới tỷ lệ hoặc bổ sung các cơ chế linh hoạt, đặc biệt cho những vùng khó khăn. Việc này không chỉ đảm bảo công bằng, minh bạch mà còn là cách duy trì động lực cho đội ngũ, giúp giáo viên yên tâm cống hiến lâu dài, đặc biệt ở những vùng khó khăn hay vùng mới sát nhập.
Xem xét điều chỉnh cơ chế hiện hành theo hướng linh hoạt hơn
Thầy Lê Quang Việt - Hiệu trưởng Trường Trung học cơ sở và Trung học phổ thông Nguyễn Khuyến (phường Xuân Đài, tỉnh Đắk Lắk) bày tỏ, trước hết, Thông tư 13 đưa ra các tiêu chí rõ ràng, đánh giá giáo viên dựa trên trình độ chuyên môn, năng lực, thành tích công tác và quá trình cống hiến. Đây là một cơ chế quan trọng nhằm ghi nhận nỗ lực của đội ngũ, đồng thời tạo động lực để giáo viên tiếp tục phấn đấu nâng cao chất lượng giảng dạy.
Tuy nhiên, khi triển khai thực tế, những vướng mắc không nằm ở năng lực hay hồ sơ của giáo viên, mà chủ yếu ở cơ chế chỉ tiêu và cơ cấu đội ngũ do địa phương giao. Nhiều giáo viên đã đủ điều kiện xét thăng hạng nhưng vẫn phải chờ, bởi chỉ tiêu bị giới hạn, đặc biệt với hạng II, nơi số lượng giáo viên đủ tiêu chuẩn thường vượt quá tỷ lệ cho phép. Tình trạng này ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi, thu nhập và sự yên tâm công tác của giáo viên, đồng thời gây khó khăn cho nhà trường trong việc lập danh sách xếp hạng.
Theo thầy Việt, để đảm bảo giáo viên được hưởng đầy đủ quyền lợi khi xét thăng hạng, Bộ Giáo dục và Đào tạo cần xem xét điều chỉnh cơ chế hiện hành theo hướng linh hoạt hơn.
Thứ nhất, có thể xem xét nới rộng tỷ lệ xét hạng, bởi hiện nay mỗi trường hoặc địa phương chỉ được xét thăng hạng cho một số lượng giáo viên tối đa, ví dụ hạng II không quá 50%. Việc nới rộng này sẽ giúp nhiều giáo viên đủ điều kiện hơn được xét thăng hạng mà không bị giới hạn quá chặt, từ đó ghi nhận đúng năng lực và đóng góp thực tế của họ. ‘
Thứ hai, Bộ xem xét bổ sung các hướng dẫn đặc thù cho hạng II và hạng I, đưa ra cơ chế linh hoạt, phù hợp với từng hạng giáo viên, nhằm đảm bảo những giáo viên thực sự đạt tiêu chuẩn đều được xét thăng hạng kịp thời, tránh tình trạng phải chờ đợi lâu. Như vậy, điều chỉnh cơ chế xét thăng hạng không chỉ giúp giáo viên được ghi nhận đúng mức, mà còn đảm bảo quyền lợi về bậc lương, thu nhập và khích lệ nỗ lực cống hiến của họ, đồng thời góp phần nâng cao động lực và chất lượng đội ngũ giáo viên một cách bền vững.
“Bởi quyền lợi của giáo viên không chỉ là vấn đề thu nhập hay bậc lương, mà còn là sự ghi nhận công bằng cho những nỗ lực, sự cống hiến và tâm huyết của họ với nghề. Khi cơ chế xét thăng hạng minh bạch, công bằng và kịp thời, giáo viên sẽ yên tâm công tác, tiếp tục nỗ lực trong giảng dạy và các hoạt động khác, đặc biệt ở những vùng khó khăn hay địa phương mới sát nhập, nơi áp lực công việc và thử thách đối với giáo viên cao hơn. Việc đảm bảo quyền lợi cũng chính là cách nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên, tạo động lực lâu dài cho nghề giáo và góp phần ổn định, phát triển giáo dục tại địa phương”, thầy Việt nêu quan điểm.
Ngày 05/01/2024, Bộ Nội vụ ban hành Văn bản số 64/BNV-CCVC về hướng dẫn xác định cơ cấu ngạch công chức và cơ cấu hạng chức danh nghề nghiệp viên chức.
Theo đó, đối với đơn vị sự nghiệp công lập tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư (đơn vị tự chủ nhóm 1) và đơn vị sự nghiệp công lập tự bảo đảm chi thường xuyên (đơn vị tự chủ nhóm 2)
Chức danh nghề nghiệp hạng I và tương đương: tối đa không quá 20%; chức danh nghề nghiệp hạng II và tương đương: tối đa không quá 50%; chức danh nghề nghiệp hạng III và tương đương trở xuống (nếu có): tối đa không quá 30%.
Đối với đơn vị sự nghiệp công lập tự bảo đảm một phần chi thường xuyên (đơn vị tự chủ nhóm 3) và đơn vị sự nghiệp công lập do ngân sách Nhà nước bảo đảm chi thường xuyên (đơn vị tự chủ nhóm 4)
Chức danh nghề nghiệp hạng I và tương đương: tối đa không quá 10%; chức danh nghề nghiệp hạng II và tương đương: tối đa không quá 50%; chức danh nghề nghiệp hạng III và tương đương trở xuống (nếu có): tối đa không quá 40%.
Cơ cấu ngạch công chức và cơ cấu chức danh nghề nghiệp viên chức nêu trên không bao gồm công chức lãnh đạo, quản lý và viên chức quản lý.
