Điều kiện xem xét cho hiệu trưởng, phó hiệu trưởng thôi giữ chức vụ, từ chức, miễn nhiệm ra sao?

11/08/2026 06:42
Bùi Nam
Theo dõi trên Google News
0:00 / 0:00
0:00

GDVN - Quy định về từ chức và miễn nhiệm đối với viên chức quản lý từ ngày 01/7/2026 theo Nghị định 259/2026/NĐ-CP đã xác định rõ hơn trách nhiệm của người giữ chức vụ quản lý trong đơn vị sự nghiệp công lập.

Từ ngày 01/7/2026, Nghị định 259/2026/NĐ-CP của Chính phủ quy định về tuyển dụng, sử dụng và quản lý viên chức chính thức có hiệu lực, thay đổi nhiều quy định liên quan đến việc quản lý, bổ nhiệm và sử dụng viên chức quản lý trong các đơn vị sự nghiệp công lập. Đáng chú ý, nghị định quy định cụ thể hơn về các trường hợp cho thôi giữ chức vụ, từ chức, miễn nhiệm, bãi nhiệm đối với viên chức quản lý, qua đó tạo cơ sở pháp lý để xử lý những trường hợp không còn phù hợp với vị trí lãnh đạo, quản lý hoặc có nguyện vọng thôi giữ chức vụ. Nghị định 259/2026/NĐ-CP đã có những quy định cụ thể mà cán bộ quản lý giáo dục cần nắm rõ.

anh-vc-tu-chuc.png
Ảnh minh họa

Quy định về thôi giữ chức vụ, từ chức, đối với viên chức quản lý

Tại Điều 42 Nghị định 259/2026/NĐ-CP quy định về điều kiện cho thôi giữ chức vụ và từ chức, đối với viên chức quản lý như sau

Trường hợp 1: quy định về cho thôi giữ chức vụ viên chức quản lý

Tại khoản 1 Điều 42 quy định việc xem xét cho thôi giữ chức vụ đối với viên chức quản lý được thực hiện khi có một trong các căn cứ sau:

Thứ nhất, đơn vị thuộc phạm vi, lĩnh vực quản lý không đạt chỉ tiêu, kế hoạch theo quy định hoặc các quyết định, quy chế, quy định, đề án, chương trình, dự án quan trọng do cơ quan, đơn vị mình phụ trách chủ trì tham mưu, đề xuất ban hành bị kết luận không hiệu quả hoặc có nguy cơ gây hậu quả xấu, trừ trường hợp vì lý do bất khả kháng;

Thứ hai, không kịp thời giải quyết khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền gây bức xúc trong dư luận, ảnh hưởng xấu đến uy tín cơ quan, tổ chức đơn vị theo kết luận của cơ quan có thẩm quyền.

Thứ ba, viên chức là người đứng đầu thiếu trách nhiệm, không kịp thời xử lý khi phát hiện viên chức thuộc quyền quản lý trực tiếp vi phạm nghiêm trọng quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước.

Và, các trường hợp khác theo quy định của Đảng và của pháp luật.

Trường hợp 2: Viên chức quản lý tự nguyện xin từ chức và được xem xét cho từ chức khi có một trong các căn cứ sau:

Thứ nhất, do bản thân nhận thấy hạn chế về năng lực lãnh đạo, quản lý hoặc không còn đủ uy tín để hoàn thành chức trách, nhiệm vụ được giao;

Thứ hai, có trên 50% số phiếu tín nhiệm thấp tại kỳ lấy phiếu theo quy định;

Thứ ba, vì lý do chính đáng khác của cá nhân;

Thứ tư, là người đứng đầu để đơn vị thuộc quyền quản lý, phụ trách trực tiếp hoặc cấp dưới trực tiếp xảy ra tham nhũng, lãng phí, tiêu cực nghiêm trọng nhưng chưa đến mức phải xem xét, xử lý kỷ luật theo quy định;

Thứ năm, có 2 năm không liên tiếp bị xếp loại không hoàn thành nhiệm vụ trong thời hạn giữ chức vụ;

Thứ sáu, có hành vi vi phạm về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống và bị cơ quan có thẩm quyền kết luận, đánh giá gây bức xúc trong dư luận, ảnh hưởng xấu đến uy tín tổ chức, cá nhân;

Thứ bảy, để người thân (vợ, chồng, con) vi phạm pháp luật của Nhà nước; sa vào tệ nạn xã hội và bị cơ quan có thẩm quyền kết luận, đánh giá gây bức xúc trong dư luận, làm ảnh hưởng xấu đến uy tín của bản thân và cơ quan, đơn vị;

Thứ tám, để người khác lợi dụng chức vụ, quyền hạn của bản thân để trục lợi và bị cơ quan có thẩm quyền kết luận, đánh giá gây hậu quả nghiêm trọng, bức xúc trong dư luận, làm ảnh hưởng xấu đến uy tín cá nhân và tổ chức, trừ trường hợp bản thân không biết;

Thứ chín, không dám làm, không dám chịu trách nhiệm, đùn đẩy, né tránh trách nhiệm, không thực hiện công việc thuộc thẩm quyền theo chức năng, nhiệm vụ được giao và bị cơ quan có thẩm quyền kết luận, đánh giá gây hậu quả rất nghiêm trọng, dư luận xấu, bức xúc trong cán bộ, đảng viên và nhân dân.

Các trường hợp khác theo quy định của Đảng và của pháp luật.

Như vậy, các căn cứ từ chức được quy định khá cụ thể, bao quát cả trường hợp viên chức quản lý tự nhận thấy không còn phù hợp với vị trí đang đảm nhiệm và những trường hợp liên quan đến năng lực, uy tín, trách nhiệm trong quá trình thực hiện chức trách. Quy định này cho thấy việc từ chức không đơn thuần xuất phát từ nguyện vọng cá nhân mà còn là một cơ chế để đề cao trách nhiệm của người đứng đầu, nhất là khi để xảy ra những hạn chế, vi phạm hoặc hậu quả nghiêm trọng trong phạm vi quản lý. Đối với cán bộ quản lý giáo dục như hiệu trưởng, phó hiệu trưởng, đây là những quy định cần đặc biệt lưu ý, bởi trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, nếu thuộc một trong các căn cứ nêu trên thì việc chủ động xin từ chức có thể được xem là một cách thể hiện trách nhiệm đối với bản thân, nhà trường và người học.

Những quy định về miễn nhiệm viên chức quản lý

Tại khoản 1 Điều 43 Nghị định 259/2026/NĐ-CP quy định về xem xét miễn nhiệm đối với viên chức quản lý được thực hiện trong các trường hợp sau:

Thứ nhất, bị kỷ luật cảnh cáo và bị cấp có thẩm quyền đánh giá năng lực hạn chế, uy tín giảm sút, không thể tiếp tục đảm nhiệm chức vụ được giao;

Thứ hai, bị kỷ luật khiển trách liên quan đến chức trách, nhiệm vụ được giao 2 lần trở lên trong một thời hạn bổ nhiệm;

Thứ ba, có trên 2/3 số phiếu tín nhiệm thấp tại kỳ lấy phiếu theo quy định;

Thứ tư, có 2 năm liên tiếp bị xếp loại không hoàn thành nhiệm vụ liên quan đến thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao;

Thứ năm, bị cơ quan có thẩm quyền kết luận suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa"; vi phạm những điều đảng viên không được làm; vi phạm trách nhiệm nêu gương, gây bức xúc trong dư luận, làm ảnh hưởng xấu đến uy tín của bản thân và cơ quan, đơn vị nơi đang công tác;

Thứ sáu, bị cơ quan có thẩm quyền kết luận vi phạm tiêu chuẩn chính trị theo quy định về bảo vệ chính trị nội bộ Đảng đến mức phải miễn nhiệm;

Thứ bảy, người đứng đầu để đơn vị thuộc quyền quản lý, phụ trách trực tiếp hoặc cấp dưới trực tiếp xảy ra tham nhũng, lãng phí, tiêu cực gây hậu quả rất nghiêm trọng theo kết luận của cơ quan có thẩm quyền nhưng chưa đến mức phải xem xét, xử lý kỷ luật theo quy định;

Thứ tám, người đứng đầu để đơn vị thuộc quyền quản lý, phụ trách trực tiếp xảy ra mâu thuẫn, mất đoàn kết nghiêm trọng theo kết luận của cơ quan có thẩm quyền;

Thứ chín, theo kiến nghị của cơ quan có thẩm quyền;

Thứ mười, thuộc một trong các trường hợp quy định phải từ chức nhưng không tự nguyện từ chức;

Các trường hợp khác theo quy định của Đảng và của pháp luật.

Như vậy, khác với từ chức là trường hợp viên chức quản lý chủ động xin thôi giữ chức vụ, miễn nhiệm là việc cơ quan có thẩm quyền xem xét, quyết định khi viên chức quản lý không còn đáp ứng yêu cầu về năng lực, uy tín, kết quả thực hiện nhiệm vụ hoặc thuộc các trường hợp phải thay thế theo quy định. Đáng chú ý, Nghị định 259/2026/NĐ-CP đặt ra nhiều căn cứ cụ thể, từ vi phạm kỷ luật, tín nhiệm thấp, nhiều năm không hoàn thành nhiệm vụ đến trách nhiệm của người đứng đầu khi để xảy ra tham nhũng, tiêu cực, mất đoàn kết nghiêm trọng. Đặc biệt, trường hợp thuộc diện phải từ chức nhưng không tự nguyện từ chức cũng có thể bị xem xét miễn nhiệm. Điều này góp phần đề cao trách nhiệm của viên chức quản lý, đồng thời bảo đảm việc bố trí, sử dụng cán bộ quản lý trong các đơn vị sự nghiệp công lập phù hợp hơn với yêu cầu về năng lực, uy tín và hiệu quả thực hiện nhiệm vụ.

Nhìn chung, quy định về từ chức và miễn nhiệm đối với viên chức quản lý từ ngày 01/7/2026 theo Nghị định 259/2026/NĐ-CP đã xác định rõ hơn trách nhiệm của người giữ chức vụ quản lý trong đơn vị sự nghiệp công lập. Nếu từ chức là cơ chế để viên chức quản lý chủ động xin thôi giữ chức vụ khi nhận thấy bản thân không còn phù hợp hoặc thuộc các trường hợp được pháp luật quy định, thì miễn nhiệm là biện pháp của cơ quan có thẩm quyền khi người quản lý không còn đáp ứng yêu cầu về năng lực, uy tín, kết quả công tác hoặc có những vi phạm, hạn chế đến mức không thể tiếp tục đảm nhiệm chức vụ.

Đối với ngành giáo dục, các quy định này càng có ý nghĩa trong bối cảnh các cơ sở giáo dục đang được sắp xếp, tổ chức lại và kiện toàn đội ngũ cán bộ quản lý. Việc từ chức, miễn nhiệm vì thế không chỉ nhằm xử lý những trường hợp yếu kém, vi phạm mà còn góp phần bảo đảm đúng người, đúng việc, đúng trách nhiệm, nâng cao hiệu quả quản trị nhà trường. Đặc biệt, việc pháp luật quy định cụ thể cả trường hợp phải từ chức nhưng không tự nguyện từ chức để xem xét miễn nhiệm sẽ góp phần hạn chế tình trạng giữ chức vụ khi không còn đủ điều kiện, đồng thời tạo cơ sở để các cơ quan có thẩm quyền chủ động kiện toàn đội ngũ hiệu trưởng, phó hiệu trưởng và viên chức quản lý theo yêu cầu thực tế.

(*) Văn phong, nội dung bài viết thể hiện góc nhìn, quan điểm của tác giả.

Bùi Nam