Theo Quyết định 2249/QĐ-BGDĐT của Bộ Giáo dục và Đào tạo về phê duyệt điều chỉnh Quy hoạch mạng lưới cơ sở giáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp công lập thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050, mạng lưới cơ sở giáo dục đại học công lập sẽ được sắp xếp theo hướng chuẩn hóa, hiện đại, phân bố hợp lý, gắn với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.
Đến năm 2030, giảm tối thiểu 20% đầu mối cơ sở giáo dục đại học công lập, không còn trường cao đẳng sư phạm
Quy hoạch xác định mục tiêu tổng quát đến năm 2030 là hình thành mạng lưới cơ sở giáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp công lập chuẩn hóa, hiện đại, phân bố hợp lý nhằm góp phần đào tạo lực lượng lao động có kỹ năng nghề cao, phát triển nhân lực trình độ cao, nhân tài đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới dựa trên khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.
Trong đó, phấn đấu 100% cơ sở giáo dục đại học và ít nhất 80% cơ sở giáo dục nghề nghiệp đạt chuẩn quốc gia, 20% cơ sở được đầu tư hiện đại tương đương các nước phát triển ở châu Á.
Quy hoạch đồng thời đặt mục tiêu tỷ lệ người lao động có trình độ cao đẳng, đại học trở lên đạt 24%.
Đối với mạng lưới cơ sở giáo dục đại học công lập, quy hoạch đặt ra một loạt chỉ tiêu cụ thể.
Trước hết, giảm tối thiểu 20% đầu mối cơ sở giáo dục đại học công lập; sau năm 2030 không còn các trường cao đẳng sư phạm.
Quy mô giáo dục đại học được định hướng trên 2,2 triệu người học; tỉ lệ học đại học trên số người trong độ tuổi 18 - 22 đạt 33%, trong đó không tỉnh, thành phố nào có tỉ lệ thấp hơn 15%.
Cơ cấu trình độ đào tạo phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế tri thức và công nghiệp hiện đại; tỉ trọng quy mô đào tạo thạc sĩ (và trình độ tương đương) đạt 7,2%, đào tạo tiến sĩ đạt 0,8%, đào tạo cao đẳng sư phạm đạt 01%; tỉ trọng quy mô đào tạo các ngành khoa học, công nghệ, kỹ thuật và toán (STEM) đạt 35%.
Quy hoạch cũng đặt mục tiêu nâng cấp, phát triển một số cơ sở giáo dục đại học đạt các tiêu chuẩn chất lượng ngang tầm khu vực và thế giới, đáp ứng yêu cầu thực hiện mục tiêu của Chiến lược phát triển giáo dục đến năm 2030.
Đồng thời, hình thành các trung tâm giáo dục đại học lớn, đào tạo chất lượng cao, trình độ cao gắn với nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ và đổi mới sáng tạo tại 04 vùng đô thị gồm Hà Nội, Đà Nẵng, Thành phố Hồ Chí Minh và Cần Thơ tạo động lực phát triển các vùng kinh tế trọng điểm và cả nước.
Đến năm 2030 giảm ít nhất 30% cơ sở giáo dục nghề nghiệp
Về mạng lưới cơ sở giáo dục nghề nghiệp công lập, quy hoạch định hướng phát triển mạng lưới cơ sở giáo dục nghề nghiệp theo hướng mở, linh hoạt, hiện đại, liên thông; gắn kết chặt chẽ với doanh nghiệp, thị trường lao động, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyền đổi số, chuyển đổi xanh và hội nhập quốc tế; đáp ứng yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực có kỹ năng nghề cao, học tập suốt đời và phát triển nguồn nhân lực quốc gia, cụ thể:
Trong đó, quy hoạch định hướng đến năm 2030, giảm tối thiểu 30% cơ sở giáo dục nghề nghiệp công lập. Tỉ trọng quy mô đào tạo các ngành khoa học, công nghệ, kỹ thuật và toán (STEM) đạt 50%.
Cơ cấu đào tạo chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng trình độ cao đẳng, đào tạo nghề chất lượng cao; giảm dần đào tạo các ngành nghề có nhu cầu thấp; phát triển mạnh đào tạo lại, đào tạo nâng cao kỹ năng và đào tạo ngắn hạn cho người lao động.
Bên cạnh đó, phấn đấu 100% cơ sở giáo dục nghề nghiệp công lập đáp ứng các điều kiện bảo đảm chất lượng theo quy định; khoảng 50% cơ sở giáo dục nghề nghiệp chất lượng cao đạt trình độ tiên tiến của ASEAN; một số cơ sở tiếp cận trình độ quốc tế.
Quy hoạch đặt mục tiêu phấn đấu đến năm 2030, cả nước có khoảng 50 trường cao đẳng chất lượng cao; Hình thành 06 trường cao đẳng thực hiện chức năng trung tâm quốc gia đào tạo và thực hành nghề chất lượng cao; 12 trường cao đẳng thực hiện chức năng trung tâm vùng đào tạo nhân lực có kỹ năng nghề cao; khoảng 30 trường cao đẳng trọng điểm đào tạo các ngành nghề chiến lược, mũi nhọn phục vụ phát triển vùng và quốc gia.
Đồng thời, hình thành hệ thống giáo dục nghề nghiệp số quốc gia; 100% cơ sở giáo dục nghề nghiệp công lập triển khai quản trị số, học liệu số và đào tạo trên môi trường số; phát triển các mô hình đào tạo trực tuyến, đào tạo kết hợp và mô phỏng thực hành số.
Định hướng đến năm 2050, Quy hoạch đặt mục tiêu phát triển mạng lưới cơ sở giáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp công lập đồng bộ và hiện đại theo các tiêu chuẩn khu vực và quốc tế, đủ năng lực đáp ứng nhu cầu tiếp cận giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học chất lượng tốt của Nhân dân, cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cao, nhân tài khoa học, công nghệ trở thành động lực và lợi thế cạnh tranh cốt lõi của đất nước, góp phần đưa Việt Nam thành nước phát triển, có thu nhập cao. 100% cơ sở giáo dục nghề nghiệp công lập đạt chuẩn quốc gia.
Chi ngân sách nhà nước cho giáo dục và đào tạo tối thiểu 20%, giáo dục đại học ít nhất 3%
Về giải pháp thực hiện, quy hoạch đề ra 10 nhóm giải pháp, gồm:
(1) giải pháp về cơ chế, chính sách;
(2) giải pháp về phát triển nguồn nhân lực;
(3) giải pháp về môi trường;
(4) giải pháp về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số;
(5) giải pháp về liên kết, hợp tác phát triển;
(6) giải pháp về giáo dục, tuyên truyền;
(7) giải pháp về hợp tác quốc tế;
(8) giải pháp về huy động và phân bổ vốn đầu tư;
(9) giải pháp về mô hình quản lý, phương thức hoạt động;
(10) giải pháp về tổ chức thực hiện quy hoạch.
Về nguồn lực thực hiện quy hoạch, nguồn ngân sách nhà nước được xác định là một trong những nguồn lực chủ yếu. Theo đó, chi ngân sách nhà nước cho giáo dục và đào tạo đạt tối thiểu 20% tổng chi ngân sách nhà nước, trong đó chi đầu tư đạt ít nhất 5% tổng chi ngân sách nhà nước và chi cho giáo dục đại học đạt ít nhất 3% tổng chi ngân sách nhà nước.
Đối với giáo dục nghề nghiệp, nguồn lực được sử dụng để đầu tư nâng cấp cơ sở vật chất, nhà xưởng, thiết bị thực hành và hạ tầng đào tạo hiện đại, mở rộng quy mô đào tạo.
Đối với giáo dục đại học, tập trung đầu tư nâng cấp, mở rộng không gian phát triển, hiện đại hóa cơ sở vật chất, phòng thí nghiệm, phòng thực hành, trung tâm nghiên cứu và đổi mới sáng tạo, trung tâm hỗ trợ khởi nghiệp và hạ tầng chuyển đổi số của các trường đại học trọng điểm.
Bên cạnh nguồn ngân sách nhà nước, quy hoạch xác định tiếp tục thu hút và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn ODA, nguồn vốn vay ưu đãi của các nhà tài trợ quốc tế nhằm hiện đại hóa giáo trình, nâng cao năng lực quản trị, cơ sở vật chất và đào tạo nhân lực chất lượng cao.
Đồng thời, thực hiện đầu tư theo hình thức đối tác công tư (PPP) trong lĩnh vực giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp nhằm huy động nguồn lực xã hội, giảm gánh nặng ngân sách nhà nước và nâng cao chất lượng cơ sở hạ tầng, trang thiết bị.
Ngoài ra, nguồn lực thực hiện quy hoạch còn gồm các nguồn thu hợp pháp, đóng góp hợp pháp từ các tổ chức, chuyên gia dưới hình thức nghiên cứu, hỗ trợ kỹ thuật hoặc tài liệu; trong đó, các yếu tố nước ngoài được kiểm soát chặt chẽ nhằm bảo đảm bí mật quốc gia.
Xem chi tiết Quy hoạch TẠI ĐÂY.