Đào tạo dàn trải, thiếu tiêu chuẩn chung sẽ tạo ra sự chênh lệch chất lượng bác sĩ y khoa

15/02/2026 06:25
Thu Trang
Theo dõi trên Google News
0:00 / 0:00
0:00

GDVN -Việc siết chặt điều kiện mở ngành, chuẩn hóa bệnh viện thực hành và kiểm soát chất lượng trong đào tạo bác sĩ y khoa đang trở thành yêu cầu cấp thiết.

Đào tạo bác sĩ y khoa là lĩnh vực đặc thù, ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe người dân, vì vậy việc quản lý chặt chẽ chất lượng đào tạo nhân lực y tế luôn nhận được sự quan tâm đặc biệt của xã hội.

Các chuyên gia cho rằng, để siết chặt chất lượng đào tạo các ngành Y nói chung và đào tạo bác sĩ y khoa nói riêng, cần tăng cường các điều kiện mở ngành nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.

Đồng thời, các cơ sở đào tạo phải có bệnh viện thực hành đạt chuẩn. Qua đó góp phần xây dựng mô hình đào tạo được chuẩn hóa, gắn liền với thực tiễn nghề nghiệp và đáp ứng yêu cầu ngày càng cao trong công tác chăm sóc, bảo vệ sức khỏe.

Muốn có bác sĩ y khoa giỏi thì chuẩn phải cao, kiểm soát phải chặt và đầu tư phải dài hạn

Trao đổi với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, Thầy thuốc ưu tú, Tiến sĩ, Bác sĩ Lê Viết Nho - Hiệu trưởng Trường Y Dược, Đại học Đà Nẵng chia sẻ, ngành y là lĩnh vực có tính đặc thù cao, đặc biệt là trong đào tạo bác sĩ y khoa bởi thời gian đào tạo kéo dài, khối lượng kiến thức chuyên môn lớn và chuyên sâu. Đồng thời, đây là ngành có yêu cầu cao về năng lực thực hành và các kỹ năng nghề nghiệp, đòi hỏi người học phải được rèn luyện bài bản, nghiêm túc.

Bên cạnh đó, người học không chỉ cần có năng lực học tập mà còn phải đáp ứng những yêu cầu về thái độ, nhận thức và ý thức trách nhiệm đối với nghề nghiệp.

Từ thực tiễn đó, việc siết chặt quy mô tuyển sinh và chuẩn hóa chương trình đào tạo là cần thiết, nhằm bảo đảm đào tạo được đội ngũ y bác sĩ y khoa vừa có năng lực chuyên môn vững vàng, vừa giữ vững đạo đức nghề nghiệp. Đặc biệt, việc kiểm soát chất lượng trong ngành đặc thù này phải thực hiện xuyên suốt, từ đầu vào, trong quá trình đào tạo đến chuẩn đầu ra.

Cũng theo thầy Nho, bác sĩ là người trực tiếp chịu trách nhiệm cho từng quyết định chuyên môn, từ những việc nhỏ nhất đến những vấn đề liên quan trực tiếp đến sức khỏe, thậm chí là tính mạng của người bệnh. Trong thực tiễn hành nghề, bác sĩ cần có khả năng chuyên môn cao cùng cách giao tiếp khéo léo với người bệnh. Cùng là việc giải thích tình trạng bệnh, nhưng nếu chỉ thực hiện một cách máy móc, khô cứng thì hiệu quả mang lại sẽ rất hạn chế. Ngược lại, khi bác sĩ biết chia sẻ động viên, thấu cảm, người bệnh sẽ cảm nhận được sự tin tưởng và an tâm hơn, từ đó nâng cao hiệu quả điều trị. Điều này cho thấy nghề y không chỉ đòi hỏi kiến thức và kỹ năng, mà còn cần cả trái tim và tinh thần nhân văn.

Chính vì vậy, để trở thành bác sĩ y khoa, người học cần có sự phù hợp ngay từ đầu, cả về năng lực, tâm lý lẫn nhận thức, trách nghiệm với nghề nghiệp. Bên cạnh việc tuyển chọn đầu vào nghiêm ngặt, quá trình đào tạo cũng cần có cơ chế sàng lọc thường xuyên. Thực tế cho thấy có không ít sinh viên ban đầu rất yêu thích ngành y, nhưng trong quá trình học và tiếp xúc với môi trường nghề nghiệp lại nhận ra bản thân không phù hợp, chẳng hạn như không vượt qua được những rào cản tâm lý đặc thù của ngành.

Do đó, chuẩn hóa đào tạo bác sĩ y khoa không chỉ là câu chuyện của đầu vào hay đầu ra, mà là một quá trình xuyên suốt, đòi hỏi sự sàng lọc, đánh giá liên tục trong suốt quá trình học tập và rèn luyện. Chỉ khi thực hiện tốt điều này, chất lượng đầu ra mới thực sự bảo đảm và đáp ứng được yêu cầu khắt khe của nghề y.

image-10.jpg
Ảnh minh hoạ. Trường Y Dược, Đại học Đà Nẵng.

Cũng theo thầy Nho, hiện nay nguồn nhân lực y tế ngày càng tăng cao, nhiều trường đại học, đặc biệt là trường tư và các trường đào tạo đa ngành cũng mở khối ngành sức khỏe. Tuy nhiên, quá trình đào tạo đang bộc lộ không ít bất cập, nhất là về đội ngũ giảng viên và điều kiện thực hành, làm dấy lên lo ngại về khả năng bảo đảm chất lượng đào tạo của khối ngành này.

“Bác sĩ y khoa là một nghề có nguy cơ cao, sai sót dù nhỏ cũng có thể dẫn đến hậu quả nghiêm trọng. Việc siết chặt quy trình đào tạo sẽ giúp cung cấp cho thị trường những bác sĩ có đạo đức, nghề nghiệp vững vàng và kỹ năng lâm sàng được rèn luyện bài bản. Đây là bước đi thiết yếu và quan trọng nhằm bảo đảm chất lượng nguồn nhân lực y tế và trên hết là bảo vệ sức khỏe và tính mạng của người dân", thầy Nho chia sẻ.

Còn theo Bác sĩ Dương Minh Tuấn - hiện đang công tác tại Bệnh viện Bạch Mai, đào tạo bác sĩ y khoa chất lượng cao có ý nghĩa sống còn bởi chất lượng đào tạo gắn trực tiếp với an toàn người bệnh và niềm tin xã hội. Khác với nhiều ngành khác, mọi lỗ hổng trong đào tạo y khoa đều có thể dẫn tới sai sót y khoa ngoài thực tế.

Ở các nước có nền y học phát triển, đào tạo bác sĩ y khoa được chuẩn hóa rất chặt chẽ theo hướng đào tạo dựa trên năng lực. Không chỉ học đủ thời gian hay đủ môn, mà người học phải chứng minh được năng lực thực hành một cách an toàn trước khi hành nghề độc lập.

Vì vậy, đào tạo ngành y nói chung và bác sĩ y khoa nói riêng đòi hỏi những yêu cầu rất cao. Trước hết là chương trình đào tạo phải có chuẩn đầu ra rõ ràng, gắn với thực hành lâm sàng, chú trọng kỹ năng, thái độ nghề nghiệp và an toàn người bệnh, chứ không chỉ nặng về lý thuyết.

Thứ hai là đội ngũ giảng viên. Đội ngũ này không chỉ cần giỏi chuyên môn mà còn phải được đào tạo về sư phạm y học, có thời gian và trách nhiệm thực sự trong việc hướng dẫn, giám sát người học trên lâm sàng.

Cuối cùng là yếu tố cơ sở vật chất và môi trường đào tạo. Các cơ sở đào tạo cần có bệnh viện thực hành đủ điều kiện, hệ thống phòng kỹ năng, mô phỏng lâm sàng, đồng thời bảo đảm môi trường học tập an toàn, trong đó người học được giám sát chặt chẽ trong suốt quá trình thực hành.

Có thể thấy, với đặc thù của ngành liên quan trực tiếp đến sức khỏe còn người thì việc đào tạo bác sĩ y khoa không thể làm theo tư duy đại trà. Muốn có bác sĩ giỏi cho xã hội thì chuẩn phải cao, kiểm soát phải chặt và đầu tư phải dài hạn.

Cũng theo bác sĩ Tuấn, việc nhiều cơ sở cùng tham gia đào tạo bác sĩ y khoa trong những năm gần đây là cần thiết để đáp ứng nhu cầu nhân lực, tuy nhiên thực tế cho thấy độ chênh rất lớn về điểm đầu vào và điều kiện đào tạo đã làm dấy lên lo ngại hoàn toàn có cơ sở về chất lượng.

Ngành Y là lĩnh vực đặc thù, không thể đào tạo theo tư duy mở rộng số lượng rồi mới tính đến chất lượng. Ở nhiều quốc gia phát triển, quy mô tuyển sinh ngành Y luôn được kiểm soát chặt, gắn với năng lực đào tạo thực tế của từng cơ sở, đặc biệt là hệ thống giảng viên và bệnh viện thực hành. Khi quy mô đào tạo vượt quá khả năng đáp ứng về nhân lực, cơ sở lâm sàng và giám sát chuyên môn, chất lượng đào tạo khó có thể được bảo đảm.

Việc cần siết đào tạo bác sĩ y khoa không phải để hạn chế cơ hội học tập, mà để bảo vệ an toàn người bệnh và uy tín nghề y. Nếu điều kiện mở ngành, mở mã tuyển sinh không đủ chặt, sinh viên sẽ thiếu cơ hội thực hành chất lượng, thiếu giám sát lâm sàng đầy đủ. Khi đó, hậu quả cuối cùng không chỉ dừng ở người học mà còn tác động trực tiếp đến toàn xã hội.

Do đó, quy mô tuyển sinh cần được gắn chặt với chuẩn chương trình đào tạo, chuẩn giảng viên và chuẩn bệnh viện thực hành, kèm theo cơ chế kiểm định độc lập và đánh giá định kỳ. Những cơ sở không đáp ứng đầy đủ các điều kiện này thì không nên tiếp tục tuyển sinh hoặc mở ngành mới.

"Siết chặt đào tạo y khoa không phải là làm khó mà là đặt lại kỷ luật chất lượng cho lĩnh vực gắn trực tiếp với sinh mạng con người. Nếu không làm sớm và làm nghiêm, cái giá phải trả sẽ là chất lượng chăm sóc y tế trong nhiều năm sau. Việc đào tạo dàn trải, thiếu chuẩn chung không chỉ dẫn đến chênh lệch chất lượng bác sĩ, mà còn tạo áp lực lớn lên hệ thống khám, chữa bệnh và tiềm ẩn rủi ro đối với an toàn người bệnh.

Khi chuẩn đào tạo không đồng đều, các cơ sở y tế sẽ phải tiếp nhận những bác sĩ y khoa mới ra trường với mức độ hành nghề rất khác nhau. Điều này buộc bệnh viện phải đào tạo lại tại chỗ, đồng thời gia tăng gánh nặng giám sát cho bác sĩ tuyến trên trong bối cảnh khối lượng công việc vốn đã quá tải. Ở các hệ thống y tế phát triển, giai đoạn chuyển tiếp từ người học sang người hành nghề luôn được kiểm soát chặt chẽ. Nếu khâu này không được thực hiện nghiêm túc, nguy cơ sai sót chuyên môn là khó tránh khỏi.

Về phía người bệnh, hệ lụy rõ nhất là nguy cơ sai sót y khoa gia tăng, từ khâu chỉ định xét nghiệm, chẩn đoán, sử dụng thuốc đến giao tiếp và xử trí tình huống lâm sàng. Những sai sót này không phải lúc nào cũng xuất phát từ cá nhân bác sĩ, mà phần lớn bắt nguồn từ những lỗ hổng trong hệ thống đào tạo và cơ chế giám sát.

“Về lâu dài, chất lượng đào tạo không đồng đều còn làm xói mòn niềm tin xã hội vào nghề y, đồng thời tạo áp lực tâm lý rất lớn cho đội ngũ bác sĩ trẻ, khi họ phải hành nghề trong tình trạng thiếu tự tin và thiếu nền tảng vững chắc”, bác sĩ Tuấn chia sẻ.

Cần chuẩn hóa đào tạo bác sĩ theo năng lực trên phạm vi toàn quốc

Theo bác sĩ Dương Minh Tuấn, để vừa kiểm soát chất lượng đào tạo y khoa, vừa đáp ứng nhu cầu nhân lực trung và dài hạn, cần nhìn nhận vấn đề này như một bài toán hệ thống, không thể giải quyết chỉ bằng một giải pháp đơn lẻ.

Trước hết, cần chuẩn hóa đào tạo theo năng lực trên phạm vi toàn quốc, với chuẩn đầu ra rõ ràng cho bác sĩ y khoa tốt nghiệp và các giai đoạn hành nghề tiếp theo. Khi chuẩn đã thống nhất, quy mô tuyển sinh và việc mở ngành phải được gắn chặt với khả năng đáp ứng chuẩn đó của từng cơ sở đào tạo và bệnh viện thực hành.

Thứ hai, cần xây dựng và vận hành cơ chế kiểm định độc lập đối với cả trường y và bệnh viện tham gia đào tạo. Cơ sở nào không đạt chuẩn thì không mở ngành hoặc không tiếp tục tuyển sinh, qua đó bảo đảm chất lượng đầu vào của hệ thống y tế trong dài hạn.

Thứ ba, để đáp ứng nhu cầu nhân lực, không nên chỉ tập trung tăng số lượng bác sĩ y khoa, mà cần tổ chức lại hệ thống đào tạo và phân bổ nhân lực, phân vai rõ ràng giữa các tuyến, các chuyên ngành và giữa bác sĩ y khoa với các nhóm nhân viên y tế khác. Cách làm này giúp sử dụng hiệu quả nguồn lực hiện có và giảm áp lực cho đội ngũ bác sĩ.

Cuối cùng, cần có lộ trình và chính sách dài hạn, bao gồm đầu tư cho giảng viên, bệnh viện thực hành, cũng như cơ chế đãi ngộ và giữ chân nhân lực y tế, đặc biệt ở tuyến cơ sở và vùng khó khăn. Chỉ khi chất lượng đào tạo được bảo đảm và môi trường làm việc đủ tốt, ngành Y mới phát triển bền vững cả về số lượng lẫn chất lượng

Tóm lại, giải pháp căn bản là đặt chất lượng làm nền tảng, từ đó mới mở rộng quy mô một cách có kiểm soát, vừa bảo đảm an toàn người bệnh, vừa đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe của xã hội trong tương lai.

Một yếu tố quan trọng trong đào tạo bác sĩ y khoa là các cơ sở đào tạo cần có bệnh viện thực hành. Bệnh viện này giữ vai trò trung tâm, bởi bác sĩ không thể hình thành chỉ từ giảng đường hay sách vở, mà chủ yếu nhờ môi trường khám, chữa bệnh thực tế. Ở các nước có nền y học phát triển, chất lượng đào tạo bác sĩ y khoa phụ thuộc rất nhiều vào năng lực và chất lượng của các bệnh viện thực hành.

Một bệnh viện tham gia đào tạo trước hết phải có quy mô đủ lớn, phổ bệnh đa dạng và số lượng ca bệnh phong phú, để sinh viên và bác sĩ trẻ được tiếp xúc thực tế, không học “chay” hay học hình thức. Tuy nhiên, số lượng ca bệnh thôi là chưa đủ, điều quan trọng là tổ chức đào tạo phải có giám sát, đảm bảo người học được giao nhiệm vụ phù hợp với năng lực và luôn có bác sĩ hướng dẫn chịu trách nhiệm.

Bên cạnh đó, bệnh viện thực hành cần có đội ngũ giảng viên lâm sàng đạt chuẩn là những bác sĩ y khoa không chỉ giỏi chuyên môn mà còn có khả năng hướng dẫn, phản hồi và đánh giá người học. Ở nhiều quốc gia, vai trò giảng viên lâm sàng được công nhận rõ ràng, với thời gian, chế độ và trách nhiệm cụ thể trong đào tạo.

Cuối cùng, bệnh viện thực hành phải xây dựng môi trường học tập an toàn, nơi người học được phép học từ sai sót trong khuôn khổ giám sát chặt chẽ, với quy trình rõ ràng về an toàn người bệnh, đạo đức nghề nghiệp và văn hóa chất lượng. Bệnh viện thực hành cần được coi là cơ sở đào tạo thực thụ, được đánh giá, kiểm định và chịu trách nhiệm về chất lượng đào tạo, tương tự như các trường y.

481022013-649033397664106-5352973872345833919-n.jpg
Ảnh minh hoạ. Trường Y Dược, Đại học Đà Nẵng.

Cùng bàn về vấn đề này, Hiệu trưởng Trường Y Dược, Đại học Đà Nẵng cho rằng, bệnh viện thực hành là một mắt xích quan trọng trong chuỗi đào tạo bác sĩ y khoa, giữ vai trò như công đoạn cuối nhằm giúp sinh viên làm quen với môi trường thực tế, tránh bỡ ngỡ khi hành nghề. Đây là yếu tố để cải thiện chất lượng đào tạo, gắn lý thuyết với thực tiễn, đồng thời đáp ứng yêu cầu đổi mới và hội nhập trong lĩnh vực y tế. Đồng thời, đây không chỉ là nơi đào tạo sinh viên mà còn là môi trường để giảng viên “nhúng mình” vào thực tiễn khám, chữa bệnh.

Giảng viên y khoa nếu chỉ giảng dạy lý thuyết mà không trực tiếp tham gia hoạt động chuyên môn sẽ khó nâng cao năng lực. Bệnh viện thực hành chính là không gian giúp giảng viên trưởng thành về chuyên môn, đồng thời tạo điều kiện cho nghiên cứu khoa học.

Những bệnh viện này đảm đương vai trò song song: vừa khám chữa bệnh, chăm sóc sức khỏe cho người dân, vừa thực hiện chức năng đào tạo và nghiên cứu khoa học. Muốn dẫn dắt và phát triển nền y học Việt Nam, nhà trường bắt buộc phải có môi trường nghiên cứu gắn với thực tiễn lâm sàng; chỉ khi đội ngũ giảng viên được rèn luyện và phát triển trong môi trường đó, chất lượng đào tạo mới thực sự được bảo đảm.

Thu Trang