LTS: Năm 2026 là năm đầu tiên thực hiện kế hoạch 5 năm và nhiệm kỳ của Đại hội XIV của Đảng. Song song với đó, các định hướng và chính sách lớn triển khai Nghị quyết số 71-NQ/TW của Bộ Chính trị đang được cụ thể hóa bằng các đề án, nhằm triển khai ngay từ đầu năm 2026 khi các luật có hiệu lực.
Nhân ngày đầu Xuân Bính Ngọ 2026, Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam có cuộc trao đổi cùng Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Nguyễn Kim Sơn để lắng nghe những chia sẻ và dự định của ngành trong năm 2026.
Phóng viên: Thưa Bộ trưởng, năm 2025 – năm cuối cùng trong nhiệm kỳ 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng lần thứ XIII đã chính thức khép lại. Nhìn lại nhiệm kỳ vừa qua, theo Bộ trưởng, đâu những vấn đề lớn, nổi bật của ngành?
Bộ trưởng Nguyễn Kim Sơn: Nhiệm kì 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng lần thứ XIII là một giai đoạn đặc biệt đối với giáo dục và đào tạo. Đây là giai đoạn tiếp tục triển khai mạnh mẽ việc đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo theo tinh thần Nghị quyết số 29-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, cùng các chủ trương, định hướng lớn của Trung ương. Trong 5 năm qua, đổi mới giáo dục được triển khai đồng bộ cả chiều rộng và chiều sâu, tập trung nâng cao chất lượng. Nhìn tổng thể, có thể khái quát một số kết quả nổi bật:
Bộ Giáo dục và Đào tạo đã chỉ đạo toàn ngành vượt qua giai đoạn đại dịch COVID-19, thực hiện thành công mục tiêu kép: vừa phòng, chống dịch, bảo đảm sức khỏe học đường, vừa duy trì, phục hồi hoạt động giáo dục. Ngành Giáo dục đã ban hành nhiều hướng dẫn, phối hợp chặt chẽ với ngành Y tế, triển khai tiêm chủng, y tế trường học và xây dựng cơ sở dữ liệu sức khỏe học sinh. Đồng thời, tham mưu ban hành các chính sách hỗ trợ tín dụng cho giáo viên, cơ sở giáo dục ngoài công lập và học sinh, sinh viên khó khăn, góp phần khắc phục tác động của dịch bệnh, bảo đảm việc học không bị gián đoạn.
Đối với giáo dục phổ thông, nhiệm kì vừa qua đánh dấu việc triển khai và hoàn thành trọn vẹn một chu trình đổi mới với Chương trình giáo dục phổ thông 2018. Chương trình có nhiều thay đổi quan trọng về cấu trúc, phương pháp tiếp cận phát triển năng lực người học; sử dụng sách giáo khoa mới; đổi mới kiểm tra, đánh giá và các yếu tố liên quan. Qua đánh giá của các đoàn giám sát của Quốc hội và các cơ quan chức năng, việc đổi mới giáo dục phổ thông đã đạt được những mục tiêu cơ bản, những yêu cầu lớn đề ra.
Bên cạnh đó, công tác phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi, phổ cập giáo dục tiểu học và trung học cơ sở tiếp tục được duy trì và hoàn thành theo mục tiêu. Các chỉ số về huy động trẻ đến trường, xóa mù chữ… trong giáo dục mầm non và phổ thông đều được cải thiện, trở thành những kết quả quan trọng trong nhiệm kì.
Đối với giáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp, 5 năm qua ghi nhận việc triển khai mạnh mẽ chủ trương tự chủ đại học, mang lại nhiều kết quả tích cực. Bộ Giáo dục và Đào tạo đã tham mưu Chính phủ đã ban hành và triển khai nhiều đề án quan trọng nhằm phát triển nguồn nhân lực cho các ngành công nghệ cao như bán dẫn, AI, công nghệ 4.0. Quy mô đào tạo các ngành STEM trong giáo dục đại học tăng nhanh, với tuyển sinh mới giai đoạn 2019–2023 tăng trung bình khoảng 10% mỗi năm, cao hơn mức chung. Nhiều lĩnh vực như Toán – Thống kê, Công nghệ thông tin, Công nghệ kỹ thuật và Kỹ thuật ghi nhận mức tăng mạnh ở cả bậc đại học và sau đại học.
Các cơ sở giáo dục đại học có nhiều chuyển biến, các chỉ số kiểm định và xếp hạng quốc tế gia tăng. Nhiều trường đại học Việt Nam đã có mặt trong các bảng xếp hạng quốc tế, trong đó có nhóm 1.000 và thậm chí nhóm 500 trường đại học hàng đầu thế giới và châu Á. Quy mô đào tạo, số lượng ngành nghề được mở rộng, chất lượng đào tạo từng bước được nâng cao, đặc biệt trong đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao và các lĩnh vực công nghệ, kỹ thuật mũi nhọn phục vụ phát triển đất nước.
Giáo dục nghề nghiệp ngày càng gắn chặt hơn với nhu cầu của doanh nghiệp và thị trường lao động. Nhiều cơ sở từng bước được đầu tư cơ sở vật chất, điều kiện dạy và học được cải thiện rõ rệt so với các giai đoạn trước.
Nhiệm kì vừa qua cũng là giai đoạn triển khai tích cực các chủ trương xây dựng xã hội học tập, thúc đẩy học tập suốt đời. Các mô hình và giải pháp từng bước đi vào thực tiễn, mang lại những kết quả bước đầu rõ nét.
Một điểm nhấn quan trọng khác là chuyển đổi số trong giáo dục và đào tạo. Ngành đã từng bước xây dựng và hoàn thiện các cơ sở dữ liệu dùng chung, bao gồm dữ liệu về cơ sở giáo dục, người học, giáo dục phổ thông, giáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp. Gần đây, các cơ sở dữ liệu về hồ sơ học tập suốt đời, học bạ số, văn bằng số đã được triển khai và dự kiến từ đầu năm 2026 sẽ được khai thác, sử dụng trên Cổng Dịch vụ công quốc gia. Các cơ sở giáo dục đại học cũng đẩy mạnh ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong dạy học, quản lý và xây dựng mô hình trường học thông minh. Có thể khẳng định, chuyển đổi số và ứng dụng công nghệ là một trong những kết quả nổi bật của giáo dục trong 5 năm qua.
Bên cạnh đó, phát triển đội ngũ nhà giáo được xác định là khâu nền tảng, có ý nghĩa quyết định đến chất lượng giáo dục. Trong nhiệm kì, vị trí, vai trò của nhà giáo được quan tâm và khẳng định rõ hơn về mặt thể chế. Việc ban hành Luật Nhà giáo là một dấu mốc quan trọng, tạo cơ sở pháp lý cho công tác tôn vinh, chăm lo và phát triển đội ngũ. Cùng với đó là nhiều chính sách liên quan đến tuyển dụng, chỉ tiêu đào tạo, chế độ, chính sách đối với nhà giáo…, góp phần tạo điểm nhấn trong phát triển nguồn nhân lực giáo dục.
Năm 2025 là năm cuối của nhiệm kì, đồng thời là năm đạt được nhiều kết quả quan trọng trong việc kiến tạo nền tảng thể chế mới cho phát triển giáo dục và đào tạo.
Trên cơ sở định hướng của Đảng, đặc biệt là Nghị quyết số 71 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo, ngành đã xây dựng và trình Quốc hội thông qua 4 Luật gồm Luật Nhà giáo, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục, Luật Giáo dục đại học (sửa đổi), Luật Giáo dục nghề nghiệp (sửa đổi) và 4 nghị quyết gồm Nghị quyết về phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em từ 3-5 tuổi; Nghị quyết về miễn, hỗ trợ học phí đối với trẻ em mầm non, học sinh phổ thông, người học chương trình giáo dục phổ thông trong cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân; Nghị quyết về một số cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội để thực hiện đột phá phát triển giáo dục và đào tạo; Nghị quyết về chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia hiện đại hóa, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo giai đoạn 2026-2035. Đây là bước đột phá về thể chế, vừa tháo gỡ các điểm nghẽn, vừa tạo động lực cho phát triển giáo dục trong thời gian tới.
Phóng viên: Bộ trưởng có thể chia sẻ rõ hơn về những nền tảng thể chế mới để vận hành toàn bộ nền giáo dục trong kỷ nguyên mới?
Bộ trưởng Nguyễn Kim Sơn: Từ ngày 1/1/2026, khi Quốc hội thông qua 4 luật, toàn bộ nền giáo dục Việt Nam sẽ vận hành trên nền tảng một thể chế mới. Các luật này vừa có tính kế thừa, vừa có những đổi mới quan trọng; trong đó có luật hoàn toàn mới như Luật Nhà giáo, cũng có luật sửa đổi, bổ sung trên nền tảng pháp lý hiện hành, như Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục, Luật Giáo dục đại học (sửa đổi), Luật Giáo dục nghề nghiệp (sửa đổi). Trong đó, Luật Nhà giáo là đạo luật có ý nghĩa đầu tư cho phát triển đội ngũ, bảo đảm nhân tố then chốt trong sự phát triển của giáo dục ở cả ba cấp độ: phổ thông, đại học và giáo dục nghề nghiệp.
Bốn luật được xây dựng bảo đảm tính đồng bộ, hệ thống và liên thông trong hệ thống pháp luật liên quan đến lĩnh vực giáo dục và đào tạo. Đây là một bước đổi mới rất quan trọng về thể chế đối với giáo dục và đào tạo.
Một thuận lợi lớn là từ năm 2025, giáo dục nghề nghiệp được điều chuyển từ Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội về Bộ Giáo dục và Đào tạo quản lý. Vì vậy, quá trình xây dựng các luật đã tính toán để bảo đảm sự đồng bộ, liên thông và hô ứng lẫn nhau giữa các quy định pháp luật, tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển giáo dục phổ thông, giáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp.
Bên cạnh các luật, Quốc hội đã thông qua nghị quyết quan trọng . Trong đó có Nghị quyết về phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ từ 3 đến 5 tuổi; Nghị quyết về miễn học phí cho học sinh mầm non, phổ thông; Nghị quyết về cơ chế, chính sách đặc thù phát triển giáo dục và đào tạo; Nghị quyết triển khai Chương trình mục tiêu quốc gia về hiện đại hóa và nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo.
Như vậy, cùng với hệ thống luật là các nghị quyết mang tính chính sách đặc biệt và cơ chế thực thi cho những quyết sách đột phá. Toàn bộ nền giáo dục sẽ được vận hành trong một khuôn khổ pháp lý thuận lợi hơn; nhiều khó khăn, vướng mắc và điểm nghẽn trong quá trình thực thi pháp luật ở các giai đoạn trước sẽ từng bước được tháo gỡ, tạo điều kiện cho giáo dục và đào tạo phát triển bền vững trong thời gian tới.
Phóng viên: Trong giai đoạn tới, mục tiêu phát triển giáo dục là bảo đảm tính tiên tiến, hiện đại và công bằng sẽ được thể hiện ra sao, thưa Bộ trưởng?
Bộ trưởng Nguyễn Kim Sơn: Chất lượng giáo dục là một yếu tố mang tính tổng hợp, được hình thành từ toàn bộ hoạt động, quy trình và các thành tố trong nhà trường. Giai đoạn tới, mục tiêu phát triển giáo dục là bảo đảm tính tiên tiến, hiện đại và công bằng, đồng thời đặt chất lượng ở vị trí trung tâm.
Yếu tố then chốt quyết định chất lượng giáo dục chính là đội ngũ nhà giáo. Đội ngũ này cần được bảo đảm đầy đủ về số lượng, hợp lý về cơ cấu và vững vàng về năng lực, trình độ. Trong thời gian qua, nhiều chính sách đã được ban hành nhằm phát triển đội ngũ nhà giáo theo hướng đó.
Đối với giáo dục mầm non, khi Luật Nhà giáo và các chính sách liên quan được triển khai, chế độ, chính sách đối với giáo viên mầm non sẽ tiếp tục được cải thiện. Ban Bí thư Trung ương Đảng cũng đã có quyết định tăng biên chế cho đội ngũ giáo viên đã được tuyển dụng trong những năm gần đây, góp phần bảo đảm điều kiện thực hiện phổ cập giáo dục mầm non.
Ở mảng giáo dục phổ thông, bên cạnh việc nâng cao năng lực đội ngũ giáo viên để đáp ứng yêu cầu của Chương trình giáo dục phổ thông 2018, ngành tập trung đào tạo giáo viên dạy các môn học mới, các môn tích hợp, nghệ thuật, thể thao và văn hóa, nhằm phát triển toàn diện người học. Đây là những lĩnh vực đòi hỏi vừa đủ về số lượng, vừa bảo đảm chất lượng đội ngũ.
Đối với các trường đại học và cơ sở giáo dục nghề nghiệp, việc nâng cao trình độ đội ngũ giảng viên được thực hiện song song trong và ngoài nước. Ngành tiếp tục cử giảng viên, nghiên cứu sinh đào tạo sau đại học, đặc biệt là đào tạo tiến sĩ tại các cơ sở giáo dục uy tín ở nước ngoài, nhằm tăng cường chất lượng đội ngũ giảng dạy và nghiên cứu.
Cùng với đó, nhiều chính sách đang được triển khai nhằm thu hút, bồi dưỡng và đào tạo nhân tài trong giáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp. Công tác đào tạo mũi nhọn, bồi dưỡng học sinh giỏi trong nước và quốc tế cũng được chú trọng, qua đó phát hiện, phát huy năng lực để bổ sung nguồn nhân lực chất lượng cao và đội ngũ giảng viên cho các trường đại học trong tương lai.
Bên cạnh yếu tố con người, cơ sở vật chất, trường lớp học và trang thiết bị dạy học là điều kiện quan trọng bảo đảm chất lượng giáo dục. Trong quá trình triển khai Chương trình giáo dục phổ thông 2018, nhiều địa phương còn gặp khó khăn về phòng học bộ môn và trang thiết bị, đặc biệt cho giáo dục STEM. Trước thực tế đó, Đảng và Nhà nước đã dành sự quan tâm lớn thông qua Chương trình mục tiêu quốc gia, tập trung tăng cường cơ sở vật chất, nhất là ở vùng khó khăn; phấn đấu đến năm 2030 kiên cố hóa 100% trường lớp học.
Việc xây dựng 248 trường học tại các xã biên giới theo mô hình kết hợp nội trú, bán trú, bảo đảm điều kiện sinh hoạt và học tập cho học sinh, cùng với tăng cường trang thiết bị phục vụ dạy học bộ môn, nghệ thuật, thể dục thể thao và STEM, sẽ góp phần phát triển toàn diện người học.
Song song với đó, ngành Giáo dục cũng đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, đổi mới công tác kiểm tra, đánh giá theo hướng khoa học, hiện đại. Đây là những yếu tố quan trọng góp phần nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo.
Đối với giáo dục đại học, chất lượng còn gắn chặt với sự kết nối thị trường lao động, vai trò của doanh nghiệp, sự đầu tư của Nhà nước và hoạt động nghiên cứu khoa học, đổi mới sáng tạo. Việc thúc đẩy nghiên cứu, chuyển giao công nghệ theo tinh thần Nghị quyết 57-NQ/TW không chỉ tạo ra các sản phẩm khoa học mà còn trực tiếp nâng cao chất lượng đào tạo, đặc biệt ở bậc sau đại học.
Hiện nay, nhiều đề án đang được triển khai nhằm tăng cường phòng thí nghiệm, trang thiết bị nghiên cứu cho các trường đại học, nhất là trong 11 nhóm lĩnh vực công nghệ trọng điểm, mũi nhọn của quốc gia, qua đó bảo đảm và nâng cao chất lượng đào tạo.
Bên cạnh đó là các giải pháp tăng cường hợp tác quốc tế, thu hút chuyên gia, nhà khoa học; mở rộng nguồn lực tài chính thông qua học bổng cho sinh viên các ngành công nghệ, kỹ thuật và chương trình đào tạo tiến sĩ ở nước ngoài. Có thể khẳng định, nhiều chính sách và đề án đang được triển khai đồng bộ nhằm hướng tới nâng cao chất lượng giáo dục ở tất cả các cấp học, trong đó đội ngũ nhà giáo, cơ sở vật chất, đổi mới quản lý và bảo đảm nguồn lực là những nhân tố then chốt.
Phóng viên: Năm 2026 không chỉ là năm khởi động mà còn là năm mở đầu cho một nhịp tăng tốc mới của giáo dục, không chỉ cho nhiệm kỳ 5 năm tới mà cho cả chặng đường phát triển dài hạn của ngành giáo dục và đào tạo. Bộ trưởng đánh giá ra sao về những vận hội mới và thách thức mới của ngành?
Bộ trưởng Nguyễn Kim Sơn: Ở thời điểm hiện nay, giáo dục đang đứng trước rất nhiều thuận lợi. Chúng tôi thường gọi đó là một “vận hội mới” của giáo dục. Có thể khẳng định, đây là những thuận lợi mang tính căn bản và là xu thế lớn, bởi giáo dục đã được định vị lại vai trò, được trao truyền thêm trách nhiệm và sứ mệnh; đồng thời nhận được sự quan tâm đặc biệt của Đảng, Nhà nước, Quốc hội, Chính phủ và toàn xã hội. Đây là điều kiện thuận lợi rất quan trọng.
Đối với đội ngũ nhà giáo, trong thời gian qua cũng nhận được nhiều sự động viên, hỗ trợ, tạo nên tinh thần và khí thế tích cực. Đây là nền tảng quan trọng để triển khai các đổi mới lớn trong thời gian tới. Có thể nói, thuận lợi hiện nay là điều kiện cơ bản cho sự phát triển của giáo dục.
Tuy nhiên, phía trước vẫn còn nhiều thách thức. Trước hết là thách thức từ chính yêu cầu phát triển cao, với mục tiêu rất lớn và tốc độ phải rất nhanh. Trong khi đó, những yếu tố của quá khứ, sức ì của thói quen cũ, tư duy cũ, cách làm cũ luôn tồn tại trước các yêu cầu đổi mới. Việc triển khai Nghị quyết số 71 đòi hỏi phải đổi mới tư duy, thay đổi cách nghĩ, cách làm để tạo ra khí thế mới, nhưng cũng cần lường trước những lực cản này. Đây là một thách thức không nhỏ.
Một thách thức khác là xuất phát điểm của nền giáo dục còn chưa đồng đều giữa các vùng miền và các nhóm dân cư. Sự chênh lệch về điều kiện kinh tế – xã hội, xu hướng phân hóa giàu nghèo, sự tập trung dân cư lớn tại các đô thị và vùng kinh tế trọng điểm đã tạo ra những áp lực không nhỏ. Trong khi đó, các khu vực vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số vẫn còn nhiều hạn chế về điều kiện học tập.
Để bảo đảm công bằng trong giáo dục và nâng cao chất lượng một cách đồng bộ trên phạm vi cả nước, khi các nhóm đối tượng và vùng miền có xuất phát điểm khác nhau, giáo dục đứng trước thách thức rất lớn. Việc nâng cao chất lượng chung của toàn hệ thống trong bối cảnh tỷ lệ người học ở các vùng khó khăn còn chiếm tỷ lệ đáng kể là một bài toán không dễ giải.
Bên cạnh đó, yêu cầu hội nhập quốc tế, chuyển đổi số, ứng dụng internet và trí tuệ nhân tạo (AI) trong giáo dục đang đặt ra những thách thức mới, mang tính phi truyền thống. Điều này đòi hỏi phải thay đổi cách dạy của người dạy, cách học của người học, cũng như phương thức kiểm tra, đánh giá. Làm thế nào để vừa tận dụng được lợi thế của dữ liệu lớn và AI, vừa bảo đảm người học không mất đi tính tự chủ, tư duy độc lập, sáng tạo, đồng thời phát huy đầy đủ phẩm chất và kỹ năng, là thách thức rất lớn đối với giáo dục hiện nay.
Chúng tôi coi AI và các công nghệ thông minh mới là những điều kiện thuận lợi, nhưng để sử dụng hiệu quả các công cụ này trong giáo dục, bảo đảm an toàn và phát triển bền vững, cần có các chính sách phù hợp, nâng cao năng lực cho đội ngũ giáo viên, đồng thời đổi mới quản trị theo hướng thông minh hơn. Việc ứng dụng công nghệ phải được kiểm soát, bảo đảm an toàn, hướng đến phát triển bền vững và phục vụ mục tiêu phát triển con người lâu dài.
Một thách thức khác là trong quá trình huy động các nguồn lực xã hội cho giáo dục, các yếu tố của thị trường cũng tác động ngày càng rõ nét. Những tác động này có thể ảnh hưởng đến môi trường giáo dục, các mối quan hệ giữa phụ huynh và giáo viên, giữa giáo viên với nhau, giữa nhà quản lý và giáo viên, giữa thầy và trò. Thách thức đặt ra là làm thế nào để giữ gìn môi trường giáo dục lành mạnh, trong sáng, không để các yếu tố thị trường làm thương mại hóa quan hệ thầy trò hay gây ra những tác động tiêu cực đến văn hóa học đường.
Cùng với đó là thách thức trong việc giáo dục nhân cách, đạo đức người học, kiểm soát, giảm thiểu các vấn đề như bạo lực học đường và các hành vi tiêu cực khác, nhất là trong bối cảnh tác động mạnh mẽ của mạng xã hội và internet – những yếu tố mà trước đây giáo dục chưa từng phải đối diện ở mức độ như hiện nay. Có thể nói, cơ hội rất lớn, nhưng áp lực đối với giáo dục cũng không hề nhỏ.
Đối với giáo dục đại học, thách thức nổi bật là cạnh tranh toàn cầu về công nghệ, nguồn nhân lực và đặc biệt là nhân tài. Các trường đại học trên thế giới đang cạnh tranh gay gắt trong đào tạo nhân lực chất lượng cao và thu hút chuyên gia giỏi. Làm thế nào để vừa đào tạo, vừa giữ chân, phát huy nguồn nhân lực trong nước, đồng thời thu hút được các chuyên gia quốc tế, tạo môi trường làm việc thuận lợi cho họ, là thách thức mang tính toàn cầu, không chỉ riêng đối với Việt Nam.
Ngoài ra, ngay trong năm 2026, việc sắp xếp lại hệ thống theo hướng tinh gọn bộ máy, đổi mới quản trị cũng sẽ tác động đến thói quen, tâm lý và lợi ích của các chủ thể liên quan. Đây cũng là những thách thức lớn trên con đường đổi mới của giáo dục trong thời gian tới.
Phóng viên: Với rất nhiều nhiệm vụ quan trọng được đặt ra trong năm 2026, nhân dịp đầu năm mới Bính Ngọ, Bộ trưởng có gửi gắm gì đến các cán bộ, giáo viên, học sinh sinh viên trong toàn ngành cũng như với phụ huynh và xã hội?
Bộ trưởng Nguyễn Kim Sơn: Năm 2026 là một năm rất quan trọng đối với cả đất nước và đối với ngành giáo dục. Cơ hội phát triển rộng mở, ngành giáo dục nhận được sự quan tâm rất lớn, nhưng đồng thời trách nhiệm cũng rất nặng nề.
Tôi mong rằng đội ngũ nhà giáo, với tất cả niềm vinh dự và trách nhiệm của mình, sẽ tiếp tục đổi mới, nhận thức đầy đủ hơn nữa vai trò, sứ mệnh, trách nhiệm và danh dự của nghề giáo, để mỗi ngày làm tốt hơn, có thể gánh vác được trọng trách lớn mà đất nước đã giao phó.
Đối với người học, tôi mong các em chủ động hơn, sáng tạo hơn, tận dụng tốt các cơ hội để không ngừng học tập, rèn luyện và phát triển bản thân, từ đó nắm bắt được những cơ hội rất lớn cho chính mình và cho đất nước trong chặng đường sắp tới.
Tôi cũng mong rằng các thầy cô giáo, các nhà quản lý giáo dục và người học đều tìm thấy niềm vui trong công việc dạy và học của mình.
Nhân dịp này, tôi xin gửi lời cảm ơn tới toàn thể quý vị phụ huynh đã luôn đồng hành cùng các thầy cô và học sinh của ngành Giáo dục trong suốt thời gian vừa qua và trong thời gian tới.
Phóng viên: Trân trọng cảm ơn và chúc mừng năm mới Bộ trưởng.
