Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia đặt ra mục tiêu đến năm 2030: “Nguồn nhân lực nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ, đổi mới sáng tạo đạt 12 người trên một vạn dân”.
Thực tiễn cho thấy, cơ sở giáo dục đại học có vai trò quan trọng trong đào tạo, bồi dưỡng và phát triển đội ngũ nhân lực khoa học. Thời gian qua, nhằm góp phần hiện thực hóa mục tiêu của Nghị quyết, nhiều trường đại học đã chủ động xây dựng chiến lược dài hạn, đổi mới chương trình đào tạo, đẩy mạnh nghiên cứu khoa học, khởi nghiệp, đồng thời tăng cường gắn kết với doanh nghiệp và thị trường lao động. Tuy nhiên, để những nỗ lực của cơ sở giáo dục đại học phát huy hiệu quả bền vững, bài toán về cơ chế, nguồn lực và chính sách hỗ trợ vẫn là vấn đề cần tiếp tục được tháo gỡ.
Nhân dịp đầu Xuân Bính Ngọ 2026, lãnh đạo một số cơ sở giáo dục đại học đã có những chia sẻ thiết thực, bày tỏ kỳ vọng góp phần thực hiện mục tiêu mà Nghị quyết số 57 đề ra.
Đổi mới chương trình đào tạo, đẩy mạnh nghiên cứu khoa học, khởi nghiệp
Trao đổi với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Đức Minh - Phó Hiệu trưởng Trường Điện - Điện tử, Đại học Bách khoa Hà Nội cho biết, thực hiện mục tiêu của Nghị quyết số 57, Đại học Bách khoa Hà Nội đã ban hành nghị quyết, thể hiện tinh thần chủ động tham gia và đóng góp thực chất. Một trong những định hướng quan trọng là phấn đấu đưa tỷ lệ người học sau đại học khoảng 30% tổng chỉ tiêu tuyển sinh, nhằm hình thành lực lượng trực tiếp tham gia nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ.
Nhà trường kiên định phát triển theo mô hình đại học đào tạo và nghiên cứu đỉnh cao, hướng tới đào tạo “thực việc, thực chiến”. Nguồn nhân lực chất lượng cao được định hướng theo hai trục chính: đội ngũ nghiên cứu chuyên sâu và lực lượng nhân lực khoa học công nghệ phục vụ trực tiếp nhu cầu đổi mới của doanh nghiệp thông qua các mô hình hợp tác chặt chẽ giữa nhà trường và doanh nghiệp.
"Tại Trường Điện – Điện tử, nhiều chương trình kỹ sư chuyên sâu đã được hình thành trong các lĩnh vực như vi mạch, robotics, trí tuệ nhân tạo. Các chương trình thạc sĩ truyền thống cũng được điều chỉnh theo hướng gắn chặt với thực tiễn sản xuất, kinh doanh và nhu cầu công nghệ. Phương pháp giảng dạy được đổi mới theo hướng đào tạo dựa trên dự án và trải nghiệm, giúp học viên sớm tiếp cận tư duy nghiên cứu và phát triển.
Đáng chú ý, các chương trình kỹ sư chuyên sâu đều bố trí thời gian thực tập kéo dài khoảng sáu tháng tại doanh nghiệp, tạo điều kiện để học viên trực tiếp tham gia các dự án nghiên cứu, phát triển sản phẩm, qua đó hình thành năng lực nghiên cứu ứng dụng và giải quyết các bài toán công nghệ thực tế", Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Đức Minh cho biết.
Cùng chia sẻ, Tiến sĩ Trần Ái Cầm – Hiệu trưởng Trường Đại học Intracom đánh giá mục tiêu của Nghị quyết 57 đã đặt ra yêu cầu đổi mới căn bản chương trình đào tạo tại các cơ sở giáo dục đại học.
“Nhiều trường đại học trên thế giới đã chuyển từ các chương trình cử nhân khoa học truyền thống sang mô hình đào tạo định hướng đổi mới sáng tạo. Còn với nhà trường, nội dung chương trình đào tạo được điều chỉnh theo hướng tăng tính liên ngành, linh hoạt và mở, đồng thời bổ sung các học phần về khởi nghiệp và đổi mới sáng tạo.
Bên cạnh đó, phương pháp dạy học được chuyển từ truyền thụ một chiều sang các mô hình học tập dựa trên nghiên cứu, học theo dự án, giải quyết vấn đề thực tiễn, tiếp cận theo tư duy thiết kế, nhằm hình thành năng lực sáng tạo cho người học”, cô Cầm chia sẻ.
Trong khi đó, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Hải Đăng – Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Khoa học và Công nghệ Hà Nội cho rằng, nền khoa học nước ta hiện vẫn thiếu và yếu ở nhiều khâu, từ nguồn nhân lực, cơ sở vật chất đến chính sách hỗ trợ. Chính sách thu hút nhân tài và chế độ đãi ngộ còn bất cập, ảnh hưởng trực tiếp đến việc hình thành đội ngũ nghiên cứu chất lượng cao.
“Nhà trường xác định nhiệm vụ trọng tâm là xây dựng môi trường đào tạo và nghiên cứu chất lượng cao, gắn với mô hình hợp tác quốc tế Việt – Pháp. Việc đầu tư tập trung giúp hình thành hệ thống thiết bị nghiên cứu tương đối đồng bộ, tạo điều kiện cho sinh viên và giảng viên tiếp cận công nghệ cao”, thầy Đăng chia sẻ.
Đến nay, Trường Đại học Khoa học và Công nghệ Hà Nội có 6 chương trình đào tạo được kiểm định chất lượng giáo dục bởi tổ chức kiểm định chất lượng giáo dục quốc tế. Mỗi chương trình đào tạo có khoảng 20% thời lượng dành cho đào tạo kỹ năng mềm, giúp người học thích ứng tốt với môi trường nghiên cứu và làm việc.
Theo tìm hiểu, hoạt động nghiên cứu khoa học và khởi nghiệp được các nhà trường xác định là động lực trong phát triển nguồn nhân lực nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ và đổi mới sáng tạo.
Bàn về nội dung này, theo Tiến sĩ Trần Ái Cầm, việc xây dựng hệ sinh thái khởi nghiệp hỗ trợ người học (gồm phòng thí nghiệm mở, trung tâm đổi mới sáng tạo, vườn ươm khởi nghiệp, quỹ hỗ trợ nghiên cứu và các cuộc thi ý tưởng) chính là nền tảng để sinh viên, học viên thử nghiệm ý tưởng và từng bước đưa kết quả nghiên cứu vào thực tiễn.
“Đối với nhà trường, hoạt động nghiên cứu khoa học và đổi mới sáng tạo được xác định là hai trụ cột chiến lược. Với định hướng “research for impact”, hoạt động nghiên cứu được tổ chức theo các cấp độ Massive – Co-op – Elite, kết hợp nghiên cứu nền tảng, hợp tác và mũi nhọn. Nhà trường hình thành các nhóm nghiên cứu, trung tâm ứng dụng, trung tâm xuất sắc, xây dựng nền tảng dữ liệu và kho tri thức số, gắn chặt nghiên cứu với đào tạo và đổi mới sáng tạo.
Đồng thời, nhà trường tập trung chuyển hóa tri thức thành giá trị kinh tế xã hội thông qua phát triển không gian đổi mới sáng tạo, vườn ươm, trung tâm hỗ trợ khởi nghiệp, hỗ trợ hình thành startup, spin-off, xây dựng cơ chế sở hữu trí tuệ và chia sẻ lợi ích minh bạch”, cô Cầm chia sẻ.
Được biết, phong trào sinh viên nghiên cứu khoa học tại Trường Điện – Điện tử và Đại học Bách khoa Hà Nội nhiều năm qua duy trì ở mức rất cao. Thầy Minh cho hay, tỷ lệ các công trình nghiên cứu, bài báo khoa học có sự tham gia của sinh viên và học viên cao học chiếm tỷ lệ đáng kể.
"Trong các cuộc thi khởi nghiệp do Đại học Bách khoa Hà Nội tổ chức, các đội thi đến từ Trường Điện – Điện tử thường chiếm số lượng lớn và đạt nhiều giải cao, phản ánh sự gắn kết giữa đào tạo, nghiên cứu và tinh thần đổi mới sáng tạo", thầy Minh nói.
Còn theo thầy Đăng, Trường Đại học Khoa học và Công nghệ Hà Nội đã thành lập trung tâm đổi mới sáng tạo, tạo điều kiện cho sinh viên tham gia các mạng lưới khởi nghiệp, cuộc thi sáng tạo, với sự đồng hành của doanh nghiệp và giảng viên. Nhà trường đồng thời phát triển hệ thống phòng thí nghiệm thực hành, trang bị máy tính, thiết bị mô phỏng, máy in 3D và các công cụ thiết kế, chế tạo sản phẩm để giúp sinh viên có không gian thực hành thực tiễn.
Xây dựng cơ chế chính sách đủ mạnh để phát triển nhân lực khoa học
Theo lãnh đạo cơ sở giáo dục, cơ chế phát triển đội ngũ nhà khoa học là điều kiện để xây dựng nhân lực nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ và đổi mới sáng tạo.
Cụ thể, thầy Minh cho biết, Đại học Bách khoa Hà Nội đã xây dựng hệ thống chính sách khuyến khích rõ ràng. Giảng viên có các bài báo đăng trên tạp chí quốc tế uy tín (Q1, Q2), cũng như các công bố tại hội thảo khoa học chất lượng cao, đều được ghi nhận và hỗ trợ tương xứng. Tương tự, các sản phẩm sở hữu trí tuệ do cán bộ giảng viên tạo ra cũng được áp dụng cơ chế đãi ngộ cụ thể. Nhà trường đồng thời khuyến khích mạnh mẽ giảng viên hợp tác với doanh nghiệp để triển khai đề tài, dự án nghiên cứu, chuyển giao công nghệ và cung cấp dịch vụ khoa học công nghệ.
“Riêng tại Trường Điện – Điện tử, nguồn thu từ các hoạt động dịch vụ công nghệ có thể chiếm tới khoảng 30% tổng nguồn lực khoa học công nghệ, cho thấy mức độ gắn kết khá sâu với thực tiễn sản xuất và thị trường”, thầy Minh chia sẻ.
Cùng đưa ra quan điểm, thầy Đăng khẳng định, chất lượng đào tạo vẫn là yếu tố quyết định chất lượng nguồn nhân lực. Hiện nay, tỷ lệ giảng viên trình độ tiến sĩ của nhà trường đạt trên 85%, trung bình mỗi giảng viên công bố 1,3–1,4 bài báo quốc tế uy tín mỗi năm. Đây là nền tảng quan trọng để nâng cao chất lượng đào tạo và nghiên cứu.
Để hiện thực hóa mục tiêu đến năm 2030: “Nguồn nhân lực nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ, đổi mới sáng tạo đạt 12 người trên một vạn dân”, thầy Đăng cho rằng, muốn tham gia hiệu quả vào việc đào tạo và phát triển nguồn nhân lực nghiên cứu cho đất nước, có ba yếu tố cốt lõi gồm đội ngũ giảng viên, người học và cơ sở vật chất đều phải được chuẩn bị đầy đủ và đồng bộ. Bên cạnh đó, cần có chính sách đãi ngộ phù hợp đối với đội ngũ làm khoa học.
"Nếu không bảo đảm được môi trường làm việc và chế độ đãi ngộ tương xứng, nguy cơ chảy máu chất xám sẽ rất lớn, ảnh hưởng trực tiếp đến mục tiêu mà Nghị quyết số 57 đặt ra", thầy Đăng nhận định.
Ngoài ra, vấn đề hiện nay là khâu thực thi chính sách. Theo đó, chính sách cần đến được với từng doanh nghiệp và nhà khoa học. Đồng thời, cần hoàn thiện cơ chế tài chính như học bổng cho học viên cao học, nghiên cứu sinh, chính sách thuế cho nhà khoa học, và chuyển mạnh từ quản lý theo quy trình sang đánh giá theo kết quả đầu ra, trao quyền tự chủ thực chất cho các trường.
Đồng tình với những chia sẻ trên, Tiến sĩ Trần Ái Cầm nhấn mạnh, để hiện thực hóa mục tiêu, cần cách tiếp cận nhất quán, lấy con người làm trung tâm, với thể chế, nguồn lực và hệ sinh thái đóng vai trò nâng đỡ. Trước hết cần chuyển từ đầu tư dàn trải sang đầu tư có trọng tâm, trọng điểm, gắn với các lĩnh vực ưu tiên và nhu cầu phát triển kinh tế xã hội.
Bên cạnh đó, cần xây dựng chính sách đủ mạnh để thu hút, giữ chân và phát triển đội ngũ nhà khoa học, đặc biệt là lực lượng trẻ, thông qua chế độ đãi ngộ phù hợp và môi trường học thuật minh bạch. Hệ thống hạ tầng dữ liệu và cơ chế quản trị khoa học công nghệ cần được hiện đại hóa, chuẩn hóa, giảm thủ tục hành chính, tạo điều kiện để đội ngũ nghiên cứu tập trung cho sáng tạo. Đặc biệt, cũng cần quan tâm thúc đẩy liên kết "nhà nước – nhà trường – doanh nghiệp".
Trong khi đó, thầy Minh cho rằng, cần vượt ra khỏi mô hình “ba nhà” truyền thống để tiến tới liên kết “bốn nhà”, gồm: nhà nước - nhà trường/nhà khoa học - doanh nghiệp khởi nghiệp - doanh nghiệp lớn.
Bởi, hiện nay nhiều hoạt động hợp tác giữa nhà khoa học và doanh nghiệp vẫn mang tính tự phát, dựa trên mối quan hệ cá nhân, khó hình thành được thị trường khoa học công nghệ quy mô lớn. Dù mô hình hợp tác này giúp nhà khoa học tiếp cận gần hơn với bài toán thực tiễn, nhưng chưa đủ để tạo ra chuỗi tiêu thụ bền vững cho các sản phẩm khoa học công nghệ. Do đó, mô hình liên kết “bốn nhà” sẽ mang lại hiệu quả hơn.
“Mô hình này phù hợp với logic phát triển công nghệ theo thang mức độ sẵn sàng công nghệ (Technology Readiness Levels – TRL). Các nghiên cứu nền tảng, mang tính dài hạn thường phải khởi nguồn từ trường đại học, với sự đầu tư bền bỉ của nhà nước trong thời gian từ 10 đến 15 năm. Khi các nhà khoa học tạo ra được các phát minh, giải pháp và sở hữu trí tuệ có giá trị, các công ty khởi nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp spin-off từ trường đại học, sẽ đóng vai trò chuyển hóa các kết quả nghiên cứu này thành sản phẩm ở mức sẵn sàng thương mại hóa. Tuy nhiên, để mở rộng thị trường và tạo sức lan tỏa, sự tham gia của các doanh nghiệp lớn hoặc sự hỗ trợ tạo thị trường từ phía nhà nước là yếu tố không thể thiếu”, thầy Minh chia sẻ.
Hiện nay các bộ, ngành đã ban hành nhiều luật và văn bản hướng dẫn nhằm cụ thể hóa Nghị quyết 57. Chính sách cần được thiết kế sao cho đến được với từng doanh nghiệp vừa và nhỏ, từng nhà khoa học, để các chủ thể trực tiếp tham gia nghiên cứu và đổi mới sáng tạo thực sự được hưởng lợi.
Bên cạnh đó, cơ chế quản lý khoa học thay vì yêu cầu thuyết minh chi li từng hạng mục công việc, cơ quan quản lý chỉ cần xác định rõ mục tiêu đầu ra và cho phép nhà khoa học chủ động sử dụng nguồn lực, trong đó có việc thuê nghiên cứu sinh, học viên cao học như lực lượng nghiên cứu chuyên nghiệp. Đây chính là thông lệ phổ biến trên thế giới.
"Khi được trao quyền tự chủ thực chất, các trường đại học sẽ tự nhiên hình thành và nuôi dưỡng được đội ngũ nghiên cứu sinh, học viên cao học đáp ứng yêu cầu nghiên cứu và phát triển. Từ đó, đóng góp trực tiếp và bền vững cho mục tiêu xây dựng nguồn nhân lực khoa học công nghệ mà Nghị quyết 57 đã đặt ra”, thầy Minh chia sẻ.
