Trong hệ thống y tế hiện đại, các kỹ thuật cận lâm sàng như xét nghiệm, chẩn đoán hình ảnh và phục hồi chức năng ngày càng đóng vai trò quan trọng trong quá trình khám chữa bệnh. Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ đang làm gia tăng nhu cầu về nguồn nhân lực có trình độ trong các ngành thuộc nhóm Kỹ thuật y học.
Theo đại diện một số cơ sở giáo dục đào tạo nhóm ngành này, việc phát triển đào tạo nhóm ngành Kỹ thuật y học cần gắn với bảo đảm điều kiện đào tạo, tăng cường thực hành tại cơ sở y tế và kiểm soát quy mô tuyển sinh nhằm đáp ứng nhu cầu nhân lực nhưng vẫn bảo đảm chất lượng đào tạo.
Kỹ thuật y học giữ vai trò quan trọng trong hệ thống chăm sóc sức khỏe hiện đại
Trao đổi với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, Tiến sĩ, Bác sĩ Ngô Thị Thảo - Trưởng khoa, Khoa Xét nghiệm, Trường Đại học Kỹ thuật Y tế Hải Dương cho biết, hiện nay, nhóm ngành Kỹ thuật y học (Medical Technology/Medical Laboratory Science) giữ vai trò quan trọng, được xem là một trong những trụ cột của hệ thống y tế hiện đại.
Trong bối cảnh y học đang chuyển mạnh theo hướng y học chính xác, y học dự phòng và chuyển đổi số, vai trò của nhóm ngành này ngày càng được khẳng định và mang tính chiến lược trong hoạt động chăm sóc sức khỏe.
Kỹ thuật y học cung cấp cơ sở khoa học cho hoạt động chẩn đoán bệnh. Khoảng 60-70% quyết định lâm sàng của bác sĩ dựa trên kết quả xét nghiệm và kỹ thuật chẩn đoán. Vì vậy, đây được xem là “hệ thống dữ liệu sinh học” quan trọng trong hoạt động của bệnh viện, hỗ trợ bác sĩ đưa ra quyết định điều trị phù hợp.
Kỹ thuật y học đảm nhiệm nhiều hoạt động chuyên môn quan trọng trong hệ thống y tế, như thực hiện các xét nghiệm huyết học, sinh hóa, miễn dịch, vi sinh, ký sinh trùng, giải phẫu bệnh, sinh học phân tử, cũng như các kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh.
Kỹ thuật xét nghiệm hiện đại cho phép sàng lọc bệnh di truyền, phát hiện sớm ung thư, nhận diện các rối loạn chuyển hóa, đồng thời hỗ trợ theo dõi dịch tễ và phát hiện các bệnh truyền nhiễm do vi khuẩn, virus như SARS-CoV-2, lao, HPV… Ngoài ra, nhiều kỹ thuật tiên tiến còn giúp phát hiện các bệnh lý ác tính và đột biến.
Kỹ thuật y học cũng đóng vai trò quan trọng trong theo dõi quá trình điều trị và tiên lượng bệnh, phát hiện sớm các biến chứng và điều chỉnh liều lượng thuốc phù hợp với từng người bệnh.
Tiến sĩ, Bác sĩ Ngô Thị Thảo - Trưởng khoa, Khoa Xét nghiệm, Trường Đại học Kỹ thuật Y tế Hải Dương. Ảnh: Bệnh viện Trường Đại học Kỹ thuật Y tế Hải Dương
Ngoài ra, nhóm ngành này là nền tảng quan trọng của y học chính xác (Precision Medicine), góp phần thúc đẩy việc ứng dụng nhiều công nghệ mới trong chẩn đoán, điều trị và phòng bệnh, như giải trình tự gen (NGS), phân tích dữ liệu sinh học hay ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong xét nghiệm.
Kỹ thuật y học gồm các ngành Kỹ thuật xét nghiệm y học (chức năng chính là xét nghiệm huyết học, sinh hóa, vi sinh, miễn dịch); Kỹ thuật hình ảnh y học (chức năng chính là X-quang, CT, MRI, siêu âm) và Kỹ thuật Phục hồi chức năng (chức năng chính là vật lý trị liệu, hoạt động trị liệu). Trong đó, Kỹ thuật xét nghiệm y học hiện là ngành có nhu cầu nhân lực rất lớn trong hệ thống y tế.
Một trong những đặc trưng nổi bật của chương trình đào tạo ngành Kỹ thuật xét nghiệm y học là tính thực hành cao, với thời lượng thực hành thường chiếm khoảng 40-60% tổng chương trình. Sinh viên được rèn luyện các kỹ năng chuyên môn như thao tác xét nghiệm; vận hành máy phân tích tự động, bán tự động; quản lý, đảm bảo chất lượng phòng xét nghiệm (QA) và kiểm soát chất lượng xét nghiệm (QC).
Chương trình đào tạo cũng tích hợp đa lĩnh vực khoa học, như huyết học truyền máu, vi sinh ký sinh trùng, giải phẫu bệnh, sinh học, hóa sinh, miễn dịch học, di truyền học, tin học y sinh và công nghệ thiết bị y tế.
Bên cạnh đó, sinh viên được tiếp cận với các công nghệ xét nghiệm hiện đại như PCR, Real-time PCR, ELISA, Flow cytometry, giải trình tự gen thế hệ mới (NGS) và các hệ thống phòng xét nghiệm tự động. Điều này giúp đáp ứng nhu cầu nhân lực cho các bệnh viện và trung tâm xét nghiệm hiện đại.
Hiện nay, chương trình đào tạo ngành Kỹ thuật xét nghiệm y học cũng được xây dựng gắn với các tiêu chuẩn quản lý chất lượng phòng xét nghiệm, như ISO 15189 và các yêu cầu khác của tổ chức quốc tế như WHO hay CLSI.
Ngoài đào tạo chuyên môn, sinh viên còn được tham gia nghiên cứu khoa học, tiếp cận nghiên cứu bệnh học, phân tích dữ liệu sinh học, dịch tễ học hay phát triển kỹ thuật xét nghiệm mới, là nền tảng cốt lõi của nguồn nhân lực xét nghiệm hiện đại.
“Trong 10-20 năm tới, ngành Kỹ thuật xét nghiệm y học sẽ tiếp tục phát triển mạnh cùng với các xu hướng như sinh học phân tử và genomics, y học chính xác, phòng xét nghiệm tự động hóa hoàn toàn, ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong chẩn đoán xét nghiệm, xét nghiệm tại chỗ (Point-of-Care Testing). Do đó, nhu cầu về nguồn nhân lực Kỹ thuật y học chất lượng cao sẽ tiếp tục gia tăng trong thời gian tới”, cô Thảo nhận định.
Trong khi đó, Phó giáo sư, Tiến sĩ Trịnh Xuân Đàn - Giảng viên, nguyên Trưởng khoa, Khoa y học cơ sở, Trường Đại học Y Dược (Đại học Thái Nguyên) cho biết, trong quá trình khám, chữa bệnh, đội ngũ nhân lực trong nhóm ngành Kỹ thuật y học không chỉ trực tiếp thực hiện kỹ thuật chuyên môn như xét nghiệm, chẩn đoán hình ảnh và phục hồi chức năng, mà còn tham gia phân tích, đánh giá kết quả, kiểm soát chất lượng kỹ thuật và cung cấp các thông tin cận lâm sàng quan trọng. Từ đó hỗ trợ bác sĩ trong chẩn đoán, điều trị, theo dõi và dự phòng cho người bệnh.
Hiện nay, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học và công nghệ, đặc biệt là công nghệ sinh học, công nghệ hình ảnh và y học chính xác, vai trò của nhóm ngành này ngày càng được khẳng định. Nhiều quyết định lâm sàng phụ thuộc đáng kể vào kết quả xét nghiệm, chẩn đoán hình ảnh cũng như các đánh giá chức năng của các cơ quan trong cơ thể người bệnh.
Tại trường, chương trình đào tạo các ngành thuộc nhóm Kỹ thuật y học được xây dựng theo định hướng kết hợp chặt chẽ giữa kiến thức khoa học cơ bản, khoa học y sinh và kỹ năng thực hành nghề nghiệp.
Bên cạnh việc trang bị nền tảng lý thuyết toàn diện và vững chắc, chương trình còn chú trọng đào tạo kỹ năng thực hành trên các hệ thống thiết bị hiện đại, năng lực nghiên cứu khoa học, khả năng làm việc nhóm trong môi trường y tế đa chuyên ngành, cũng như khả năng thích ứng với sự phát triển nhanh chóng của công nghệ trong lĩnh vực y sinh học.
Sinh viên Trường Đại học Y Dược (Đại học Thái Nguyên) thực hành: Ảnh: TNUS
Cần kiểm soát điều kiện mở ngành, quy mô tuyển sinh để đảm bảo chất lượng đào tạo
Trong bối cảnh nhiều cơ sở giáo dục đại học trên cả nước mở đào tạo các ngành thuộc nhóm ngành Kỹ thuật y học, việc kiểm soát điều kiện mở ngành, quy mô tuyển sinh và chuẩn đầu vào có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo đảm chất lượng đào tạo cũng như chất lượng nguồn nhân lực y tế.
Theo Tiến sĩ, Bác sĩ Ngô Thị Thảo, đây là lĩnh vực có tính thực hành cao và gắn trực tiếp với hoạt động chẩn đoán, điều trị, vì vậy việc kiểm soát điều kiện mở ngành giúp bảo đảm cơ sở đào tạo đáp ứng các yêu cầu cần thiết như đội ngũ giảng viên đủ trình độ chuyên môn, hệ thống phòng thí nghiệm và trang thiết bị thực hành đạt chuẩn, cùng với các cơ sở thực hành lâm sàng như bệnh viện hoặc trung tâm xét nghiệm.
Bên cạnh đó, việc kiểm soát quy mô tuyển sinh cũng góp phần bảo đảm chất lượng đào tạo. Khi quy mô tuyển sinh vượt quá năng lực đào tạo của cơ sở giáo dục, bao gồm đội ngũ giảng viên, phòng thí nghiệm và cơ sở thực hành, sinh viên có thể thiếu cơ hội thực hành và tiếp cận thiết bị, từ đó ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo. Vì vậy, việc quản lý quy mô tuyển sinh giúp các trường tổ chức đào tạo phù hợp với năng lực thực tế, đồng thời duy trì chất lượng nguồn nhân lực kỹ thuật y học đáp ứng yêu cầu của hệ thống y tế.
Việc bảo đảm chuẩn đầu vào phù hợp cũng giúp tuyển chọn những sinh viên có nền tảng khoa học tự nhiên tốt và khả năng tiếp thu kiến thức chuyên sâu trong lĩnh vực y sinh, góp phần nâng cao hiệu quả đào tạo, giảm tỷ lệ sinh viên không đáp ứng được yêu cầu chuyên môn và từng bước hình thành đội ngũ kỹ thuật viên có năng lực nghề nghiệp.
Cô Thảo nhấn mạnh, việc nâng cao chất lượng đào tạo nhóm ngành Kỹ thuật y học cần có sự phối hợp giữa chính sách đầu tư, chuẩn hóa chương trình đào tạo, tăng cường gắn kết với các cơ sở y tế và phát triển đội ngũ giảng viên, qua đó góp phần tạo nguồn nhân lực kỹ thuật y học chất lượng cao cho hệ thống y tế.
Nhà nước và cơ sở đào tạo cần tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, phòng thí nghiệm, hệ thống máy xét nghiệm hiện đại và học liệu số, nhằm giúp sinh viên tiếp cận với các công nghệ đang được sử dụng tại các bệnh viện và cơ sở y tế.
Bên cạnh đó, cần thúc đẩy sự gắn kết giữa nhà trường và các cơ sở y tế thông qua việc xây dựng cơ chế phối hợp chặt chẽ giữa trường đại học và bệnh viện thực hành, tạo điều kiện để sinh viên được thực tập, thực hành lâm sàng và tiếp cận môi trường làm việc thực tế.
Việc phát triển đội ngũ giảng viên chất lượng cao cũng là yếu tố quan trọng, trong đó cần có chính sách hỗ trợ đào tạo sau đại học, nâng cao trình độ chuyên môn, cập nhật kiến thức trong và ngoài nước cho giảng viên, đồng thời khuyến khích giảng viên tham gia nghiên cứu khoa học và hoạt động chuyên môn tại các cơ sở y tế.
Ngoài ra, chương trình đào tạo cần được chuẩn hóa và cập nhật thường xuyên theo nhu cầu thực tiễn, tăng cường thời lượng thực hành, kỹ năng nghề nghiệp, nội dung về quản lý chất lượng xét nghiệm và các công nghệ mới trong lĩnh vực y sinh.
Cùng với đó, việc đẩy mạnh hợp tác quốc tế và nghiên cứu khoa học, tăng cường trao đổi chuyên môn, chuyển giao công nghệ với các cơ sở đào tạo và trung tâm xét nghiệm trong và ngoài nước cũng là giải pháp quan trọng nhằm nâng cao chất lượng đào tạo trong lĩnh vực này.
Theo cô Thảo, để đáp ứng tốt nhu cầu của thị trường lao động, sinh viên ngành Kỹ thuật y học cần trang bị kỹ năng lực chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp. Trước hết là thực hiện thành thạo các kỹ thuật xét nghiệm, đồng thời hiểu và tuân thủ các quy trình chuyên môn, quy định về an toàn sinh học và kiểm soát chất lượng.
Bên cạnh đó, người học cần có khả năng sử dụng thiết bị và công nghệ hiện đại, vận hành các hệ thống máy xét nghiệm tự động, cũng như tiếp cận các kỹ thuật mới như PCR, ELISA, sinh học phân tử và tự động hóa phòng xét nghiệm.
Năng lực quản lý chất lượng cũng là yêu cầu quan trọng, bao gồm hiểu biết về các hệ thống quản lý chất lượng như QMS, QC, QA, tiêu chuẩn ISO 15189 và khả năng phân tích, kiểm soát sai số trong xét nghiệm.
Ngoài ra, sinh viên cần có kỹ năng công nghệ thông tin và phân tích dữ liệu, sử dụng các phần mềm quản lý phòng xét nghiệm (LIS) và xử lý dữ liệu xét nghiệm.
Cùng với đó là các kỹ năng mềm và thái độ nghề nghiệp như khả năng làm việc nhóm trong môi trường bệnh viện, sự cẩn thận, chính xác và tinh thần trách nhiệm cao trong công việc.
Ảnh minh họa: Bệnh viện Trường Đại học Kỹ thuật Y tế Hải Dương.
Đồng quan điểm, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Trịnh Xuân Đàn cho rằng, Kỹ thuật y học là nhóm ngành đào tạo có tính đặc thù cao, gắn trực tiếp với hoạt động khám, chữa bệnh và an toàn người bệnh. Vì vậy, để tổ chức đào tạo hiệu quả, cơ sở giáo dục đại học cần đáp ứng đầy đủ các điều kiện về đội ngũ giảng viên có trình độ chuyên môn phù hợp, hệ thống phòng thí nghiệm và trang thiết bị thực hành đạt chuẩn, đồng thời có bệnh viện thực hành hoặc cơ sở y tế đủ điều kiện nhằm tạo cơ hội cho sinh viên được thực hành, thực tập lâm sàng.
Bên cạnh đó, việc xác định quy mô tuyển sinh phù hợp với năng lực đào tạo của từng cơ sở là rất cần thiết, nhằm bảo đảm mỗi sinh viên đều có đủ điều kiện học tập, thực hành và rèn luyện kỹ năng nghề nghiệp. Nếu việc mở ngành và tuyển sinh vượt quá năng lực thực tế của cơ sở đào tạo, chất lượng đào tạo sẽ khó được bảo đảm.
Ngoài ra, chuẩn đầu vào của người học cũng cần được xác định ở mức phù hợp để bảo đảm sinh viên có đủ nền tảng kiến thức khoa học tự nhiên và năng lực học tập cần thiết. Điều này không chỉ góp phần nâng cao chất lượng đào tạo mà còn bảo đảm nguồn nhân lực sau khi tốt nghiệp có đủ năng lực chuyên môn để phục vụ hiệu quả cho hệ thống y tế.
Thầy Đàn chia sẻ: “Trường Đại học Y Dược (Đại học Thái Nguyên) luôn chú trọng nâng cao chất lượng đào tạo, phát triển đội ngũ giảng viên có trình độ cao với nhiều giáo sư, phó giáo sư, tiến sĩ được đào tạo trong và ngoài nước. Nhà trường đã tham gia đánh giá ngoài nhiều chương trình đào tạo và được công nhận đạt tiêu chuẩn chất lượng giáo dục theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo.
Với hệ thống phòng thí nghiệm và phòng thực hành được đầu tư đồng bộ, cùng Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Thái Nguyên và mạng lưới bệnh viện thực hành rộng khắp, sinh viên được học tập gắn với thực tiễn nghề nghiệp. Trong những năm gần đây, sinh viên tốt nghiệp các ngành thuộc nhóm Kỹ thuật y học của nhà trường đều có việc làm, với tỷ lệ đạt 100%. Đây là nền tảng quan trọng để nhà trường tiếp tục phát triển đào tạo các ngành thuộc nhóm Kỹ thuật y học, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của hệ thống y tế”.
Chia sẻ thêm về những yêu cầu cần có đối với sinh viên nhóm ngành Kỹ thuật y học, thầy Đàn khẳng định, bên cạnh kiến thức chuyên môn, sinh viên cần trang bị thêm nhiều năng lực quan trọng như ngoại ngữ, tin học, khả năng tiếp cận và sử dụng các thiết bị công nghệ cao, kỹ năng nghiên cứu khoa học, kỹ năng làm việc nhóm và tinh thần học tập suốt đời. Đây là những yếu tố giúp người học có thể thích ứng tốt với sự phát triển nhanh chóng của khoa học công nghệ trong lĩnh vực y học.
Trong đào tạo khối ngành khoa học sức khỏe nói chung và nhóm ngành Kỹ thuật y học nói riêng, việc gắn kết giữa cơ sở đào tạo với bệnh viện thực hành có ý nghĩa quan trọng. Khi được tiếp cận với môi trường bệnh viện ngay trong quá trình học tập, sinh viên có cơ hội quan sát và trực tiếp tham gia vào các quy trình chuyên môn thực tế dưới sự hướng dẫn của giảng viên và cán bộ y tế.
Điều này giúp người học không chỉ áp dụng kiến thức đã học vào thực tiễn mà còn nâng cao kỹ năng thực hành nghề nghiệp, đồng thời hiểu rõ hơn về quy trình vận hành của hệ thống y tế, sự phối hợp giữa các bộ phận chuyên môn cũng như vai trò, trách nhiệm của kỹ thuật viên trong hoạt động khám, chữa bệnh.
Thực tế cho thấy, sinh viên được đào tạo trong môi trường có sự gắn kết chặt chẽ giữa nhà trường và bệnh viện thường có khả năng thích nghi nhanh hơn với công việc sau khi tốt nghiệp, tự tin hơn trong thực hành chuyên môn và đáp ứng tốt hơn yêu cầu của các cơ sở y tế.