ĐHQGHN đặt mục tiêu đào tạo 10.000 chuyên gia bán dẫn, đơn vị thành viên nỗ lực mở rộng quy mô

17/07/2026 06:24
Đình Nam
Theo dõi trên Google News
0:00 / 0:00
0:00

GDVN - Theo đại diện một số đơn vị thành viên của Đại học Quốc gia Hà Nội, mục tiêu đào tạo 10.000 chuyên gia lĩnh vực bán dẫn đang được tích cực triển khai thông qua việc mở rộng quy mô đào tạo, nghiên cứu khoa học và hợp tác doanh nghiệp.

Đại học Quốc gia Hà Nội đặt mục tiêu đào tạo 10.000 chuyên gia trong lĩnh vực bán dẫn đến năm 2030, góp phần hiện thực hóa chương trình phát triển nguồn nhân lực bán dẫn quốc gia. Đây là chủ trương được Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Bảo Sơn - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội nêu tại Tại Hội thảo quốc tế về thiết kế, sản xuất vi mạch và công nghệ cảm biến (WEFAB 2026). [1]

Theo đại diện một số đơn vị thành viên của Đại học Quốc gia Hà Nội, các đơn vị đang tích cực đóng góp vào mục tiêu này thông qua đào tạo quy mô lớn kết hợp nghiên cứu thực tiễn, tạo nên sức mạnh tổng hợp giữa Nhà nước, nhà trường và doanh nghiệp. Đây chính là chìa khóa để ngành bán dẫn Việt Nam phát triển bền vững và cạnh tranh quốc tế trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0.

Mở rộng quy mô đào tạo, đẩy mạnh nghiên cứu khoa học và tăng cường mạng lưới hợp tác doanh nghiệp

Trao đổi với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Ngọc Đỉnh - Trưởng khoa, Khoa Vật lý, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên (Đại học Quốc gia Hà Nội) cho biết, thực hiện Quyết định 1017/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về "Phát triển nguồn nhân lực ngành công nghiệp bán dẫn đến năm 2030, định hướng đến năm 2050", Trường Đại học Khoa học Tự nhiên đã đăng ký tham gia với 5 chương trình đào tạo bậc đại học và 3 chương trình đào tạo bậc thạc sĩ, trong đó Khoa Vật lý giữ vai trò nòng cốt.

Cụ thể, ở bậc đại học, nhà trường đào tạo các ngành Vật lý học (hệ chuẩn và tài năng), Khoa học Vật liệu, Kỹ thuật Điện tử và Tin học, Công nghệ bán dẫn; ở bậc thạc sĩ trường đào tạo các ngành Vật lý, Kỹ thuật Điện tử và Tin học và Công nghệ bán dẫn. Đây cũng là cơ sở để Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, với nòng cốt là Khoa Vật lý, được xác định là một trong 18 cơ sở đào tạo trên cả nước được ưu tiên xem xét đầu tư phòng thí nghiệm bán dẫn cấp cơ sở phục vụ đào tạo nguồn nhân lực.

Theo thầy Đỉnh, quy mô tuyển sinh các ngành liên quan đến bán dẫn của trường đang tăng liên tục. Tổng chỉ tiêu các ngành Vật lý, Vật lý tài năng, Khoa học Vật liệu, Kỹ thuật Điện tử và tin học, Công nghệ bán dẫn đã tăng từ 240 sinh viên năm 2019 lên 500 sinh viên theo thông tin tuyển sinh đại học năm 2026. Riêng ngành Công nghệ bán dẫn mới mở năm 2025 đã tuyển sinh 120 chỉ tiêu ngay trong năm đầu tiên và tăng lên 140 chỉ tiêu năm 2026.

vnu1.png
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Ngọc Đỉnh (bên phải) - Trưởng khoa, Khoa Vật lý, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên (Đại học Quốc gia Hà Nội). Ảnh: website nhà trường

Ở bậc sau đại học, quy mô đào tạo thạc sĩ tăng từ 31 học viên năm 2024 lên 80-90 học viên năm 2025, đồng thời tuyển 15 nghiên cứu sinh tiến sĩ trong năm 2025. Nhà trường đặt mục tiêu quy mô tuyển sinh các ngành liên quan đến bán dẫn tiếp tục tăng khoảng 10% mỗi năm trong giai đoạn 2025-2030, góp phần thực hiện mục tiêu đào tạo 10.000 chuyên gia bán dẫn của cả nước.

“Bên cạnh việc xây dựng hai mã ngành mới là Công nghệ bán dẫn (trình độ đại học) và Công nghệ bán dẫn (trình độ thạc sĩ), nhà trường đang hoàn thiện chương trình Thạc sĩ Kỹ thuật Điện tử và Tin học. Đồng thời, các chương trình đào tạo hiện có như Vật lý học, Khoa học Vật liệu, Kỹ thuật Điện tử và Tin học được rà soát, cập nhật theo hướng chuyên sâu hơn về vật lý linh kiện bán dẫn, vật liệu bán dẫn và thiết kế vi mạch nhằm bảo đảm chuẩn đầu ra theo định hướng hội nhập quốc tế.

Song song với việc phát triển chương trình đào tạo, nhà trường đầu tư nâng cấp cơ sở vật chất theo hai giai đoạn. Trong đó, module 1 tập trung nâng cấp phòng thí nghiệm thực hành kiến thức cơ bản, dự kiến phục vụ 1.200 sinh viên mỗi năm và có thể mở rộng lên 2.000 sinh viên mỗi năm.

Module 2 sẽ xây dựng các phòng thí nghiệm chuyên đề về vật liệu bán dẫn tiên tiến, chế tạo linh kiện, đóng gói và kiểm thử, phục vụ khoảng 400 sinh viên năm thứ ba, năm thứ tư của các ngành liên quan. Tổng mức đầu tư dự kiến cho hai giai đoạn này khoảng 300 tỷ đồng trong giai đoạn 2025-2027”, Trưởng khoa, Khoa Vật lý, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên (Đại học Quốc gia Hà Nội) thông tin.

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Ngọc Đỉnh chia sẻ thêm, nhằm bảo đảm sinh viên tốt nghiệp có thể đáp ứng ngay yêu cầu của doanh nghiệp, Khoa Vật lý và Trường Đại học Khoa học Tự nhiên đã và đang xây dựng mạng lưới hợp tác với doanh nghiệp theo nhiều cấp độ.

Trước hết, nhà trường đẩy mạnh kết nối với các tập đoàn, công ty công nghệ để tạo cơ hội thực tập và việc làm cho sinh viên, như LG, Samsung, Công ty Cổ phần Bóng đèn Phích nước Rạng Đông, BYD, VMO, Sun, Tinh Vân, Netcom, THT và Công ty Cổ phần Sản xuất Thiết bị Điện tử Tin học EMC. Một số doanh nghiệp đã ký kết hợp tác chính thức và cử chuyên gia trực tiếp tham gia giảng dạy một số học phần trong chương trình đào tạo, góp phần giúp nội dung giảng dạy gắn chặt với thực tiễn sản xuất.

Ở tầm quốc tế, thầy Đỉnh cho biết chương trình liên kết đào tạo thạc sĩ Công nghệ bán dẫn với Trường Kỹ thuật, Đại học Quốc lập Yang Ming Chiao Tung (NYCU - Đài Loan, Trung Quốc) được triển khai từ năm 2019, đã tạo điều kiện để học viên có cơ hội thực tập trực tiếp tại các tập đoàn bán dẫn hàng đầu thế giới như Taiwan Semiconductor Manufacturing Co (TSMC), Micron Technology và Phison Electronics Corporation. Đây được xem là mô hình mẫu để nhà trường tiếp tục nghiên cứu nhân rộng sang bậc cử nhân trong thời gian tới.

Về nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ, Trưởng khoa, Khoa Vật lý, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên (Đại học Quốc gia Hà Nội) cho biết đơn vị chủ trương ưu tiên kinh phí cho các nhóm nghiên cứu có hợp tác trực tiếp với doanh nghiệp hoạt động trong ngành công nghiệp bán dẫn, đồng thời tích cực tìm kiếm nguồn tài trợ và học bổng từ doanh nghiệp cho sinh viên.

“Nhà trường cũng hướng tới việc huy động tối đa nguồn lực từ Nhà nước, cơ sở đào tạo và doanh nghiệp để chia sẻ, dùng chung hệ thống phòng thí nghiệm và các trang thiết bị có giá trị lớn, học hỏi kinh nghiệm từ các đối tác quốc tế như NYCU trong đầu tư và vận hành mô hình phòng thí nghiệm bán dẫn dùng chung”, thầy Đỉnh bày tỏ.

dsc-0212-1-1024x680.jpg
Phòng sạch dành cho đào tạo và nghiên cứu về bán dẫn của Trung tâm Nano và Năng lượng thuộc Khoa Vật lý, Trường Đại học Khoa học tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội. Ảnh: NVCC

Chia sẻ về hướng nghiên cứu trọng điểm trong lĩnh vực bán dẫn, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Ngọc Đỉnh cho biết, Khoa Vật lý, Trường Đại học Khoa học tự nhiên đã triển khai nhiều hướng nghiên cứu cơ bản gắn với ứng dụng công nghệ bán dẫn như phát triển pin mặt trời perovskite hiệu suất cao, chế tạo cấu trúc nano lõi/vỏ đồng oxit/kim loại quý ứng dụng làm cảm biến phát hiện chất độc trong thực phẩm; nghiên cứu vật liệu siêu dẫn nhiệt độ cao hệ Bi-Pb-Sr-Ca-Cu-O; phát triển hệ thống vi lưu đếm tế bào sinh học dựa trên công nghệ MEMS; và các hệ thống giám sát, cảnh báo đa thông số môi trường không khí, nước.

Trung tâm Nano và Năng lượng của Khoa cũng đã đạt những kết quả bước đầu trong chế tạo các hợp phần chip bán dẫn cơ bản nhờ làm chủ công nghệ vận hành phòng sạch cùng các thiết bị quang khắc, tạo màng mỏng và khắc vi cấu trúc.

Ở quy mô lớn hơn, khung chương trình nghiên cứu khoa học cấp Đại học Quốc gia Hà Nội (QGCT.23), triển khai giai đoạn 2024-2026 với tổng kinh phí 90 tỷ đồng, đặt mục tiêu phát triển 10 sản phẩm chip và thiết bị ứng dụng có tiềm năng chuyển giao cho doanh nghiệp, đồng thời hướng tới 100 công bố WoS/Scopus.

“Trong giai đoạn 2023-2025, Trường Đại học Khoa học tự nhiên có nhiều bằng sở hữu trí tuệ được cấp hoặc sản phẩm khoa học công nghệ được chuyển giao/thương mại hóa, cùng nhiều hơn nữa đơn đăng ký sở hữu trí tuệ được chấp nhận hợp lệ; riêng Khoa Vật lý hàng năm công bố khoảng 100 bài báo WoS/Scopus, trong đó hơn 50% liên quan trực tiếp đến lĩnh vực vật liệu và công nghệ bán dẫn, cho thấy tiềm năng chuyển giao và thương mại hóa đang được tích lũy dần từ nền tảng nghiên cứu cơ bản mạnh của đơn vị”, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Ngọc Đỉnh cho hay.

Cần triển khai chiến lược đầu tư đồng bộ, tập trung vào ba trụ cột

Cùng chia sẻ về mục tiêu phát triển nguồn nhân lực bán dẫn, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Trần Thuật - Viện trưởng Viện Bán dẫn và Vật liệu tiên tiến, Công viên Công nghệ cao và Đổi mới sáng tạo (Đại học Quốc gia Hà Nội) khẳng định, để đáp ứng mục tiêu đào tạo nguồn nhân lực bán dẫn với quy mô lớn nhưng vẫn bảo đảm chất lượng, các cơ sở giáo dục đại học và viện nghiên cứu cần triển khai chiến lược đầu tư đồng bộ, tập trung vào ba trụ cột quan trọng là đội ngũ giảng viên, hệ thống phòng thí nghiệm và hạ tầng nghiên cứu.

Theo thầy Thuật, trước hết, cần ưu tiên xây dựng mạng lưới phòng thí nghiệm thực hành hiện đại tại các trường đại học với quy mô đủ lớn để phục vụ đào tạo đại trà, đồng thời hình thành một số phòng thí nghiệm dùng chung cấp quốc gia được đầu tư trang thiết bị tiên tiến nhằm đáp ứng yêu cầu đào tạo chuyên sâu và nghiên cứu sau đại học.

Đây là điều kiện tiên quyết để người học được tiếp cận công nghệ và thực hành ngay từ sớm. Đơn cử, Đại học Quốc gia Hà Nội đang triển khai Trung tâm Hỗ trợ thiết kế, chế tạo và đo kiểm vi mạch quốc gia tại Hòa Lạc, được đầu tư đồng bộ các hợp phần về thiết kế, chế tạo, đóng gói, đo kiểm và phát triển ứng dụng, tạo môi trường thực hành, nghiên cứu sát với thực tiễn cho sinh viên và học viên.

z7986890490084-08ab017beaf335b2dfa1adedce2619cb.jpg
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Trần Thuật - Viện trưởng Viện Bán dẫn và Vật liệu tiên tiến, Công viên Công nghệ cao và Đổi mới sáng tạo (Đại học Quốc gia Hà Nội). Ảnh: NVCC

Đồng thời, đội ngũ giảng viên cũng cần được bồi dưỡng thường xuyên để cập nhật kiến thức và công nghệ mới, đặc biệt ở ba lĩnh vực cốt lõi của ngành bán dẫn là thiết kế vi mạch, chế tạo và đóng gói - đo kiểm. Song song với đào tạo học thuật, các chương trình cần chú trọng phát triển kỹ năng nghề nghiệp, từ vận hành dây chuyền sản xuất, bảo trì hệ thống thiết bị đến làm chủ các quy trình công nghệ, qua đó hình thành đội ngũ nhân lực vừa có nền tảng lý thuyết vững chắc, vừa đáp ứng tốt yêu cầu thực hành trong môi trường sản xuất.

Theo Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Trần Thuật, hợp tác quốc tế cũng là một mắt xích không thể thiếu trong quá trình nâng cao chất lượng đào tạo. Các cơ sở đào tạo cần mở rộng hợp tác theo cả hai chiều: tạo điều kiện để giảng viên và sinh viên học tập, thực tập tại các trung tâm nghiên cứu và đào tạo bán dẫn như Viện Khoa học và Công nghệ Tiên tiến Hàn Quốc (KAIST), Viện Nghiên cứu Bán dẫn Đài Loan, Trung Quốc (TSRI), Trung tâm Nghiên cứu Nanoelectronics IMEC, Viện Nghiên cứu Công nghệ CEA-Leti hay Trường Kỹ thuật, Đại học Quốc lập Yang Ming Chiao Tung (NYCU - Đài Loan, Trung Quốc); đồng thời thu hút các chuyên gia quốc tế tham gia giảng dạy, hướng dẫn nghiên cứu và chuyển giao công nghệ.

Cùng với việc xây dựng các nhóm nghiên cứu mạnh và phân công rõ thế mạnh của từng đơn vị, những giải pháp này sẽ giúp các cơ sở đào tạo vừa mở rộng quy mô, vừa nâng cao chất lượng, qua đó đóng góp hiệu quả vào mục tiêu phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao cho ngành công nghiệp bán dẫn Việt Nam.

Cũng theo Viện trưởng Viện Bán dẫn và Vật liệu tiên tiến, Công viên Công nghệ cao và Đổi mới sáng tạo (Đại học Quốc gia Hà Nội), nghiên cứu khoa học giữ vai trò then chốt trong việc nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực bán dẫn.

Cụ thể, khác với việc tiếp thu kiến thức theo hướng ghi nhớ lý thuyết, hoạt động nghiên cứu tạo điều kiện để người học có đủ thời gian đào sâu vấn đề, phân tích bản chất, hình thành tư duy phản biện và năng lực giải quyết các bài toán thực tiễn. Đặc biệt trong lĩnh vực công nghệ cao như bán dẫn, nghiên cứu không chỉ là nền tảng để tiếp cận tri thức mới mà còn là động lực thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.

vnu-khcn-2.jpg
Nghiên cứu sinh tại Viện Bán dẫn và Vật liệu tiên tiến, Công viên Công nghệ cao và Đổi mới sáng tạo (Đại học Quốc gia Hà Nội). Ảnh: website nhà trường

Theo thầy Thuật, nghiên cứu ứng dụng càng có ý nghĩa khi giúp sinh viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh được tham gia trực tiếp vào quá trình tạo ra sản phẩm và công nghệ. Thông qua các đề tài, dự án nghiên cứu cụ thể, người học có cơ hội rèn luyện kỹ năng làm chủ công nghệ ở toàn bộ chuỗi giá trị, từ thiết kế, chế tạo đến đo kiểm và phát triển ứng dụng. Đây là con đường hiệu quả để gắn kết đào tạo với thực tiễn sản xuất, đồng thời hình thành đội ngũ kỹ sư và nhà nghiên cứu có năng lực sáng tạo, đáp ứng yêu cầu của ngành công nghiệp bán dẫn.

Bên cạnh đó, hợp tác nghiên cứu quốc tế cũng là yếu tố quan trọng giúp nâng cao chất lượng đào tạo. Việc triển khai các dự án chung với những trường đại học và viện nghiên cứu hàng đầu thế giới như TSRI, CEA-Leti, IMEC, NYCU hay KAIST không chỉ giúp giảng viên và sinh viên Việt Nam tiếp cận nhanh với các công nghệ và tiêu chuẩn tiên tiến, mà còn tạo điều kiện nâng cao năng lực nghiên cứu, từng bước tiệm cận trình độ của khu vực và thế giới.

“Mọi thế hệ công nghệ bán dẫn đều bắt nguồn từ nghiên cứu cơ bản và ứng dụng. Không thể phát triển ngành công nghiệp bán dẫn bền vững tại Việt Nam nếu thiếu nền tảng nghiên cứu mạnh mẽ. Chính vì vậy, Đại học Quốc gia Hà Nội đang đẩy mạnh tích hợp nghiên cứu vào chương trình đào tạo thông qua Trung tâm hỗ trợ thiết kế, chế tạo và đo kiểm vi mạch quốc gia, tạo môi trường để sinh viên tham gia R&D ngay từ sớm.

Nhờ đó, tôi tin rằng nguồn nhân lực bán dẫn Việt Nam không chỉ đông đảo mà còn có chất lượng cao, đủ khả năng làm chủ công nghệ lõi và đóng góp vào chuỗi cung ứng toàn cầu”, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Trần Thuật nhấn mạnh.

Tài liệu tham khảo:

[1] https://vnu.edu.vn/wefab-2026-dhqghn-thuc-day-he-sinh-thai-ban-dan-tu-dao-tao-nghien-cuu-den-thuong-mai-hoa-cong-nghe-post40169.html

Đình Nam