Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 tuyển sinh ngành Quản lý thể dục thể thao (mã ngành: 7810301) từ năm 2024. Năm 2026, nhà trường dự kiến tuyển 107 chỉ tiêu cho ngành học này.
Sau khi tốt nghiệp cử nhân Quản lý thể dục thể thao, sinh viên có thể đảm nhiệm đa dạng các vị trí. Đó là quản lý trong các cơ quan nhà nước, các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh về lĩnh vực thể dục thể thao như: thể thao thành tích cao, thể dục thể thao quần chúng; công trình và thiết bị thể thao; trung tâm, câu lạc bộ thể thao; thể thao giải trí; du lịch thể thao; tổ chức sự kiện thể thao; nghiên cứu thị trường, đàm phán tài trợ thể thao. Cùng với đó, cử nhân ngành này có thể tham gia giảng dạy trong các cơ sở giáo dục và đào tạo sau khi hoàn thành khóa học nghiệp vụ sư phạm; nghiên cứu khoa học về lĩnh vực thể dục thể thao trong viện nghiên cứu...
Để tìm hiểu kỹ hơn về ngành học, phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam đã có cuộc trò chuyện với Tiến sĩ Vũ Tuấn Anh - Trưởng khoa Khoa học Thể dục thể thao, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2.
Ngành Quản lý thể dục thể thao khác gì so với ngành Huấn luyện thể thao?
Chia sẻ về định hướng đào tạo ngành Quản lý thể dục thể thao, Tiến sĩ Vũ Tuấn Anh cho biết: "Ngành Quản lý thể dục Thể thao của Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 được triển khai theo hướng ứng dụng, nhằm đào tạo cử nhân có phẩm chất nghề nghiệp, kiến thức chuyên môn, kỹ năng thực hành và khả năng thích ứng với môi trường làm việc hiện đại.
Mục tiêu trọng tâm là giúp người học có năng lực tổ chức, quản lý, điều hành, đánh giá và phát triển các hoạt động thể dục thể thao trong nhà trường, cơ quan quản lý, câu lạc bộ, trung tâm thể thao, doanh nghiệp và các tổ chức xã hội.
Điểm khác biệt của ngành Quản lý thể dục thể thao so với ngành Giáo dục thể chất và ngành Huấn luyện thể thao nằm ở định hướng đầu ra. Ngành Giáo dục thể chất tập trung vào năng lực dạy học; ngành Huấn luyện thể thao chú trọng huấn luyện kỹ thuật, chiến thuật và thành tích vận động viên.
Trong khi đó, ngành Quản lý thể dục thể thao tiếp cận thể thao dưới góc độ quản trị, bao gồm quản lý con người, cơ sở vật chất, sự kiện, truyền thông, pháp lý, thị trường và phát triển phong trào.
Đồng thời, chương trình vẫn có sự gắn kết với nền tảng giáo dục thể chất, giúp sinh viên có kiến thức chuyên môn thể thao cần thiết. Sinh viên tốt nghiệp cần đạt các năng lực chính như quản lý hoạt động thể dục thể thao, tổ chức sự kiện và giải đấu, truyền thông - marketing thể thao, phối hợp với các bên liên quan, ứng dụng công nghệ thông tin, ngoại ngữ và nghiên cứu khoa học trong hoạt động nghề nghiệp".
Được biết, chương trình đào tạo ngành Quản lý thể dục thể thao của trường được xây dựng theo tiếp cận chuẩn đầu ra, bảo đảm sự thống nhất giữa mục tiêu đào tạo, nội dung chương trình, phương pháp giảng dạy, phương thức đánh giá và yêu cầu của thị trường lao động. Chương trình hướng tới hình thành năng lực tổ chức, quản lý, điều hành và đánh giá các hoạt động thể dục thể thao trong bối cảnh thể thao ngày càng gắn với giáo dục, dịch vụ, truyền thông, kinh tế và quản trị xã hội.
Về nội dung, chương trình được thiết kế với nhiều học phần gắn thực tiễn nghề nghiệp như Kinh tế học thể dục thể thao, Pháp lí thể dục thể thao, Quản lý thể dục thể thao, Marketing thể thao, Quản lý tổ chức thi đấu, Quản lý thể thao giải trí, Quản lý thiết bị - công trình thể dục thể thao, Ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý thể dục thể thao.
Các học phần này giúp sinh viên kết hợp kiến thức thể thao với năng lực quản trị, tổ chức, truyền thông, pháp lý và công nghệ.
Thầy Tuấn Anh cho hay, để chương trình bám sát thực tiễn, khoa chú trọng kết nối với cơ quan quản lý, câu lạc bộ, trung tâm thể thao, doanh nghiệp và đơn vị tổ chức sự kiện. Các đơn vị này vừa là môi trường thực tập, trải nghiệm nghề nghiệp, vừa là kênh phản hồi giúp Khoa rà soát, cập nhật chương trình và yêu cầu kỹ năng nghề nghiệp.
Tinh thần “học đi đôi với hành” được triển khai thông qua học phần thực hành, hoạt động trải nghiệm, thực tập nghiệp vụ, bài tập tình huống và dự án học tập như lập kế hoạch tổ chức giải đấu, xây dựng phương án vận hành câu lạc bộ, thiết kế hoạt động truyền thông hoặc đánh giá hiệu quả hoạt động thể dục thể thao.
Đề cập tới những thuận lợi và khó khăn trong quá trình triển khai đào tạo ngành Quản lý thể dục thể thao, vị Trưởng khoa thông tin, đơn vị có nền tảng chuyên môn, đội ngũ nhân lực và điều kiện tổ chức đào tạo vững chắc. Khoa Khoa học Thể dục thể thao có kinh nghiệm trong đào tạo, nghiên cứu khoa học và tổ chức các hoạt động giáo dục thể chất, thể thao. Nhà trường cũng có hệ thống cơ sở vật chất, sân bãi và trang thiết bị phục vụ giảng dạy, học tập, thực hành và trải nghiệm nghề nghiệp cho sinh viên.
Cụ thể, về đội ngũ, khoa hiện có 25 cán bộ, giảng viên, gồm 02 phó giáo sư, 09 tiến sĩ, 14 thạc sĩ (trong đó có 06 giảng viên đang là nghiên cứu sinh). Đây là nguồn lực quan trọng để triển khai chương trình theo hướng vừa bảo đảm nền tảng khoa học, vừa tăng cường tính ứng dụng và định hướng nghề nghiệp. Song hành với giảng dạy, giảng viên còn tham gia nghiên cứu khoa học, tổ chức phong trào, giải đấu và các hoạt động chuyên môn về thể dục thể thao.
Ngoài ra, ngành Quản lý thể dục thể thao còn có nhiều thuận lợi khi nhu cầu xã hội về rèn luyện sức khỏe, dịch vụ thể thao, phòng tập, câu lạc bộ, giải đấu phong trào, thể thao học đường và thể thao doanh nghiệp ngày càng tăng.
Khó khăn chủ yếu đến từ việc ngành Quản lý thể dục thể thao còn tương đối mới trong khối sư phạm, nên nhận thức của phụ huynh, thí sinh và xã hội về ngành chưa thật đầy đủ; nhiều người còn nhầm lẫn với ngành Giáo dục thể chất hoặc ngành Huấn luyện thể thao. Ngoài ra, chương trình phải cân bằng giữa kiến thức quản lý với kỹ năng thực hành trong bối cảnh thể thao hiện đại thay đổi nhanh, đòi hỏi thêm năng lực về công nghệ, truyền thông số, quản trị sự kiện và dịch vụ thể thao.
Để khắc phục, phía khoa triển khai đào tạo theo hướng tích hợp giữa lý thuyết, thực hành và trải nghiệm nghề nghiệp. Các học phần được gắn với bài tập tình huống, thảo luận nhóm, dự án học tập và nhiệm vụ mô phỏng thực tiễn.
Đồng thời, khoa tăng cường kết nối với các đơn vị ngoài trường để mở rộng môi trường thực tập, giúp sinh viên học cách tổ chức, vận hành, quản lý và đánh giá các hoạt động thể thao trong điều kiện thực tế. Khoa còn chú trọng truyền thông rõ bản chất ngành học, vị trí việc làm và năng lực cần có để người học lựa chọn đúng, học đúng và phát triển nghề nghiệp bền vững.
Sinh viên khoa Khoa học Thể dục thể thao, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2. Ảnh: NTCC.
Đào tạo ngành theo hướng liên ngành, ứng dụng và linh hoạt
Là ngành học yêu cầu sinh viên dành nhiều thời gian thực hành, Tiến sĩ Vũ Tuấn Anh cho biết, sinh viên ngành Quản lý thể dục thể thao được tham gia thực tập và trải nghiệm thực tế thông qua các học phần trải nghiệm, học phần nghiệp vụ, hoạt động thực hành và thực tập tại cơ sở. Các hoạt động này giúp sinh viên chuyển hóa kiến thức được học thành năng lực nghề nghiệp trong môi trường thực tiễn.
Môi trường thực tập, trải nghiệm được định hướng đa dạng, gồm cơ quan quản lý nhà nước về thể dục thể thao, trung tâm thể thao, câu lạc bộ, nhà thi đấu, trường học, doanh nghiệp dịch vụ thể thao, đơn vị tổ chức giải đấu, sự kiện thể thao, truyền thông thể thao và các mô hình thể thao cộng đồng. Sinh viên có cơ hội tham gia các công việc như lập kế hoạch, tổ chức hoạt động, điều phối nhân sự, hỗ trợ truyền thông, quản lý cơ sở vật chất và đánh giá hiệu quả chương trình.
Cùng với đó, khoa đẩy mạnh hợp tác đào tạo, triển khai theo các hướng chính như kết nối với cơ quan quản lý, đơn vị sự nghiệp và cơ sở giáo dục; hợp tác với câu lạc bộ, trung tâm thể thao, nhà thi đấu và doanh nghiệp dịch vụ thể thao; mở rộng liên kết với đơn vị tổ chức sự kiện, truyền thông, du lịch thể thao, tài trợ thể thao; đồng thời tăng cường liên hệ với các liên đoàn, hiệp hội, bộ môn thể thao của địa phương, ngành và các tỉnh, thành phố.
Hiệu quả thực tập được đánh giá thông qua báo cáo thực tập, sản phẩm học tập, mức độ hoàn thành nhiệm vụ, ý thức nghề nghiệp, phản hồi của giảng viên hướng dẫn và nhận xét của đơn vị tiếp nhận. Qua đó, sinh viên hình thành kỹ năng giao tiếp, làm việc nhóm, xử lý tình huống, tổ chức sự kiện, tư duy quản lý và tác phong nghề nghiệp.
Trước sự phát triển của thể thao chuyên nghiệp và công nghiệp thể thao, vị Trưởng khoa nhấn mạnh: "Đơn vị xác định đào tạo ngành Quản lý thể dục thể thao cần bám sát yêu cầu thực tiễn, theo hướng liên ngành, ứng dụng và linh hoạt. Chương trình chú trọng phát triển năng lực quản lý, tổ chức, truyền thông, vận hành dịch vụ thể thao, ứng dụng công nghệ và thích ứng với các mô hình thể thao hiện đại.
Sau khi tốt nghiệp, sinh viên có thể làm việc tại cơ quan quản lý nhà nước về thể dục thể thao, trung tâm thể thao, câu lạc bộ, nhà thi đấu, doanh nghiệp thể thao, đơn vị tổ chức sự kiện, bộ phận truyền thông - marketing - tài trợ thể thao, cơ sở đào tạo và nghiên cứu. Ngoài ra, sinh viên có thể tham gia các lĩnh vực như thể thao quần chúng, thể thao giải trí, du lịch thể thao, quản lý công trình - thiết bị thể thao, nghiên cứu thị trường và đàm phán tài trợ thể thao.
Một điểm quan trọng là chương trình có định hướng gắn với nền tảng giáo dục thể chất. Vì vậy, sinh viên sau khi tốt nghiệp nếu có nguyện vọng làm giáo viên có thể học thêm chứng chỉ nghiệp vụ sư phạm theo quy định, từ đó tham gia giảng dạy tại các cơ sở giáo dục phù hợp. Đây là hướng mở rộng cơ hội nghề nghiệp, đồng thời phù hợp với đặc thù đào tạo của Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2".
Thông tin tuyển sinh đại học chính quy năm 2026 của khoa Khoa học Thể dục thể thao, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2. Ảnh: NTCC.
Chia sẻ lý do theo học ngành Quản lý thể dục thể thao tại Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2, em Nguyễn Việt Dương (sinh viên K50) bày tỏ: "Em lựa chọn ngành vì yêu thích thể thao và mong muốn được làm việc trong môi trường năng động, gắn với tổ chức, quản lý và phát triển các hoạt động thể thao. Với em, đây là ngành học phù hợp vì có thể kết hợp đam mê thể thao với định hướng nghề nghiệp lâu dài.
Điều khiến em hứng thú với ngành là chương trình không chỉ học lý thuyết mà còn được thực hành qua các sản phẩm, dự án thực tế như xây dựng mô hình quy hoạch sân bãi, đề xuất chiến lược phát triển từng môn thể thao, lập kế hoạch và thực hành tổ chức giải đấu. Nhờ vậy, em hiểu rõ hơn cách vận hành một hoạt động thể thao từ khâu ý tưởng, chuẩn bị, tổ chức đến đánh giá kết quả".
Theo Việt Dương, ngành Quản lý thể dục thể thao có tính thực tiễn cao vì kiến thức học được có thể áp dụng trực tiếp vào hoạt động ở trường, câu lạc bộ, trung tâm thể thao, giải đấu phong trào hoặc các đơn vị tổ chức sự kiện thể thao.
Trong quá trình học, Việt Dương đã có cơ hội tham gia hỗ trợ các hoạt động thể thao, giải đấu phong trào và thực hiện một số nhiệm vụ học tập gắn với thực tế như xây dựng kế hoạch tổ chức giải, thiết kế mô hình sân bãi, đề xuất phương án phát triển hoạt động thể thao. Những trải nghiệm này giúp em hiểu rõ hơn yêu cầu của công việc quản lý thể thao.
"Qua thực tế, em tích lũy được kỹ năng giao tiếp, làm việc nhóm, lập kế hoạch, quản lý thời gian, điều phối công việc và xử lý tình huống. Em cũng tự tin hơn khi được tham gia vào môi trường thể thao năng động, đòi hỏi tinh thần trách nhiệm và khả năng phối hợp cao.
Em mong muốn chương trình tiếp tục tăng thêm các buổi thực tế, kiến tập và kết nối với câu lạc bộ, trung tâm thể thao, doanh nghiệp hoặc đơn vị tổ chức sự kiện. Điều đó sẽ giúp người học có thêm kinh nghiệm nghề nghiệp và định hướng rõ hơn sau khi tốt nghiệp", Việt Dương chia sẻ.