Mối quan hệ giữa trường đại học - doanh nghiệp có nhiều thay đổi sau 1,5 năm thực hiện Nghị quyết 57

09/07/2026 06:22
Thúy Hiền
Theo dõi trên Google News
0:00 / 0:00
0:00

GDVN - Mối quan hệ giữa doanh nghiệp và trường đại học đã có sự chuyển biến rõ rệt, từ kết nối đơn thuần trong tuyển dụng sang hợp tác chiến lược trên nhiều phương diện.

Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị, ban hành ngày 22/12/2024, được xác định là một trong những chủ trương mang tính chiến lược nhằm tạo bước đột phá trong phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Đây cũng được kỳ vọng là động lực quan trọng để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, năng lực cạnh tranh quốc gia và tạo nền tảng đưa Việt Nam bước vào giai đoạn phát triển mới.

Sau hơn 1,5 năm triển khai, tinh thần của Nghị quyết đã từng bước được hiện thực hóa tại nhiều cơ sở giáo dục đại học. Các trường chủ động đổi mới chương trình đào tạo, tăng cường nghiên cứu khoa học, mở rộng hợp tác với doanh nghiệp, thúc đẩy chuyển giao công nghệ và xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo. Những chuyển biến này không chỉ góp phần nâng cao chất lượng đào tạo mà còn từng bước hiện thực hóa các mục tiêu phát triển đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 theo định hướng của Nghị quyết.

Nghiên cứu khoa học bứt phá cả về “chất” và “lượng”

Trao đổi với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Vũ Quỳnh - Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Lạc Hồng cho rằng, Nghị quyết 57 đã tạo động lực mạnh mẽ cho các cơ sở giáo dục đại học, trong đó có nhà trường nhằm thúc đẩy hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo phát triển theo hướng thực chất hơn.

Điều quan trọng không chỉ nằm ở sự gia tăng về số lượng các hoạt động nghiên cứu mà còn ở sự thay đổi trong tư duy. Nếu trước đây, nghiên cứu chủ yếu hướng đến công bố khoa học thì hiện nay, nhà trường ưu tiên giải quyết các bài toán thực tiễn của doanh nghiệp và địa phương, qua đó nâng cao giá trị ứng dụng của kết quả nghiên cứu.

Trong hơn 1,5 năm qua, hoạt động nghiên cứu khoa học của Trường Đại học Lạc Hồng đã ghi nhận nhiều chuyển biến tích cực. Số lượng đề tài có doanh nghiệp đồng hành ngày càng tăng, nhiều nhóm nghiên cứu liên ngành được hình thành nhằm giải quyết các vấn đề thực tiễn. Bên cạnh đó, hệ sinh thái đổi mới sáng tạo và khởi nghiệp trong nhà trường cũng trở nên sôi động hơn với sự tham gia của giảng viên, sinh viên và doanh nghiệp.

Đáng chú ý, mối quan hệ hợp tác với doanh nghiệp đã chuyển từ hình thức hỗ trợ đơn lẻ sang đồng hành xuyên suốt trong đào tạo, nghiên cứu và chuyển giao công nghệ. Doanh nghiệp không chỉ đặt hàng các nhiệm vụ nghiên cứu mà còn tham gia xây dựng chương trình đào tạo, tài trợ phòng thí nghiệm, tiếp nhận sinh viên thực tập và tuyển dụng sau tốt nghiệp.

Theo Phó Giáo sư Nguyễn Vũ Quỳnh, những kết quả nổi bật mà Trường Đại học Lạc Hồng đạt được thời gian qua là số lượng đề tài nghiên cứu ứng dụng tăng lên, nhiều sản phẩm được đăng ký bảo hộ sở hữu trí tuệ, các hợp đồng chuyển giao công nghệ ngày càng nhiều, đồng thời mạng lưới hợp tác với doanh nghiệp trong và ngoài nước tiếp tục được mở rộng.

img-5150.jpg
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Vũ Quỳnh - Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Lạc Hồng. Ảnh: Website nhà trường.

Bên cạnh đó, mối quan hệ giữa doanh nghiệp và trường đại học hiện nay đã có sự chuyển biến rõ nét, từ kết nối đơn thuần trong tuyển dụng sang hợp tác chiến lược trên nhiều phương diện như đào tạo, nghiên cứu khoa học, đổi mới sáng tạo và chuyển giao công nghệ.

“Doanh nghiệp ngày càng xem trường đại học là đối tác chiến lược trong phát triển nguồn nhân lực, nghiên cứu và đổi mới công nghệ, thay vì chỉ là nơi cung cấp lao động. Ngược lại, nhà trường cũng coi doanh nghiệp là 'phòng thí nghiệm mở', nơi các kết quả nghiên cứu được kiểm chứng, hoàn thiện và đưa vào thực tiễn sản xuất.

Tại Trường Đại học Lạc Hồng, sự gắn kết này được thể hiện ngày càng rõ thông qua việc doanh nghiệp tham gia trực tiếp vào quá trình đào tạo. Nhiều doanh nghiệp cùng nhà trường xây dựng và góp ý chương trình đào tạo, chuẩn đầu ra, cử chuyên gia giảng dạy các chuyên đề thực tiễn, kỹ năng mềm, văn hóa doanh nghiệp, tài trợ trang thiết bị, tiếp nhận sinh viên thực tập và đặt hàng các nhiệm vụ nghiên cứu.

Ở chiều ngược lại, nhà trường không chỉ cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cao mà còn đồng hành cùng doanh nghiệp trong việc nghiên cứu, phát triển các giải pháp kỹ thuật, chuyển giao công nghệ, cung cấp các sản phẩm nghiên cứu ứng dụng và tư vấn chuyên môn nhằm giải quyết những bài toán thực tiễn.

Đây là mô hình hợp tác mang lại lợi ích cho cả hai phía, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, đồng thời cải thiện chất lượng đào tạo, nghiên cứu và đổi mới sáng tạo của nhà trường”, Phó Giáo sư Nguyễn Vũ Quỳnh cho hay.

Hiện Trường Đại học Lạc Hồng đã thiết lập mạng lưới hợp tác với 1.167 doanh nghiệp trong nhiều lĩnh vực. Các doanh nghiệp không chỉ là đơn vị tiếp nhận thực tập và tuyển dụng mà còn tham gia sâu vào quá trình đào tạo thông qua góp ý chuẩn đầu ra, xây dựng chương trình, giảng dạy các chuyên đề thực tế, hướng dẫn sinh viên thực hiện các dự án gắn với nhu cầu của doanh nghiệp và đồng hành trong các hoạt động nghiên cứu, chuyển giao công nghệ.

Ở Trường Đại học Công nghệ (Đại học Quốc gia Hà Nội), Giáo sư, Tiến sĩ Chử Đức Trình - Hiệu trưởng nhà trường cho biết, khoa học công nghệ và chuyển đổi số là triết lý xuyên suốt trong chiến lược phát triển của trường. Định hướng này được triển khai đồng bộ trong quản trị đại học, đổi mới chương trình đào tạo, nâng cao chất lượng đào tạo và phát triển hoạt động nghiên cứu khoa học.

Toàn bộ hoạt động quản trị của trường hiện được vận hành trên nền tảng số, tạo sự kết nối và tương tác giữa tất cả các bên liên quan. Người học sử dụng hệ thống học tập trực tuyến và các nền tảng quản lý đào tạo; giảng viên thực hiện điểm danh, đánh giá quá trình học tập, kiểm tra và chấm điểm trên hệ thống số, qua đó bảo đảm tính minh bạch, liên tục và hiệu quả trong quản lý.

Song song với chuyển đổi số, nhà trường cũng rà soát, cập nhật toàn bộ chương trình đào tạo theo các chuẩn kiểm định quốc tế như ABET, đồng thời đối sánh với chương trình của nhiều trường đại học hàng đầu thế giới nhằm nâng cao chuẩn đầu ra, đáp ứng yêu cầu nguồn nhân lực trong bối cảnh phát triển khoa học công nghệ và chuyển đổi số.

Ở lĩnh vực nghiên cứu khoa học, nhà trường từng bước xây dựng hệ sinh thái nghiên cứu theo hướng tự chủ, tăng cường phân cấp, phân quyền cho các khoa, viện; đồng thời hoàn thiện cơ chế quản lý, đánh giá và phân bổ nguồn lực để khuyến khích các nhóm nghiên cứu phát huy năng lực.

Bên cạnh đó, nhiều sản phẩm nghiên cứu của nhà trường đã được ứng dụng vào thực tiễn. Trường đã phối hợp với các cơ quan, địa phương triển khai nhiều chương trình tập huấn về trí tuệ nhân tạo và chuyển đổi số; đồng thời phát triển các sản phẩm công nghệ phục vụ doanh nghiệp. Hiện một số sản phẩm nghiên cứu của nhà trường đã được doanh nghiệp đưa vào sử dụng trong hoạt động sản xuất, kinh doanh. Nhà trường cũng mở rộng hợp tác quốc tế với các đối tác đến từ Hàn Quốc, Nhật Bản và nhiều doanh nghiệp công nghệ lớn nhằm thúc đẩy nghiên cứu, đào tạo và chuyển giao công nghệ.

gs-chu-duc-trinh.jpg
Giáo sư, Tiến sĩ Chử Đức Trình - Hiệu trưởng Trường Đại học Công nghệ (Đại học Quốc gia Hà Nội). Ảnh: website nhà trường.

Đánh giá về sự thay đổi trong mối quan hệ giữa trường đại học và doanh nghiệp sau khi Nghị quyết 57 được ban hành, Giáo sư Chử Đức Trình cho rằng đây không còn đơn thuần là mối quan hệ “hai chiều” mà đã phát triển thành mối quan hệ “đa chiều”, trong đó các bên cùng tham gia vào hệ sinh thái đổi mới sáng tạo.

Doanh nghiệp ngày càng nhận thấy trường đại học là nơi sở hữu nguồn nhân lực chất lượng cao và tiềm lực nghiên cứu mà doanh nghiệp khó có thể tự xây dựng. Vì vậy, nhiều doanh nghiệp chủ động đầu tư cho các dự án nghiên cứu, hợp tác phát triển công nghệ và đồng hành cùng nhà trường trong đào tạo.

Ở chiều ngược lại, sự tham gia của doanh nghiệp giúp các trường đại học liên tục cập nhật chương trình đào tạo, hoàn thiện chuẩn đầu ra, bổ sung các nội dung thực tiễn vào bài giảng và nâng cao chất lượng đào tạo. Đồng thời, không khí đổi mới sáng tạo trong doanh nghiệp cũng lan tỏa vào nhà trường, giúp người học nhìn rõ hơn con đường nghề nghiệp của mình, có động lực học tập và nghiên cứu, từ đó nâng cao chất lượng nguồn nhân lực sau tốt nghiệp.

Về những chính sách mới nhằm tháo gỡ khó khăn cho hoạt động khoa học công nghệ trong thời gian qua, Giáo sư Chử Đức Trình cho rằng, các cơ chế hiện hành đã tạo ra những chuyển biến tích cực bước đầu. Tuy nhiên, để các chính sách thực sự đi vào cuộc sống, vẫn cần tiếp tục hoàn thiện nhiều quy định liên quan đến tài chính, đầu tư trang thiết bị, sở hữu trí tuệ và thương mại hóa kết quả nghiên cứu.

Cần sớm xây dựng cơ chế rõ ràng hơn trong việc khai thác tài sản trí tuệ và chuyển giao công nghệ. Đặc biệt, có thể nghiên cứu mở rộng cơ chế cho phép các trường đại học công lập thành lập doanh nghiệp hoặc tham gia góp vốn vào doanh nghiệp để tạo cầu nối đưa kết quả nghiên cứu ra thị trường.

Bên cạnh đó, Việt Nam cũng cần phát triển mạnh hơn các quỹ đầu tư mạo hiểm, cơ chế chấp nhận rủi ro trong nghiên cứu và đổi mới sáng tạo, bởi không phải mọi dự án đều thành công ngay từ đầu. Chỉ khi có một hệ sinh thái đủ thông thoáng, các kết quả nghiên cứu mới có điều kiện phát triển thành sản phẩm có giá trị, đóng góp thiết thực cho phát triển kinh tế - xã hội.

Hoàn thiện cơ chế để trường đại học trở thành trung tâm đổi mới sáng tạo

Còn theo Phó Giáo sư Nguyễn Vũ Quỳnh, những thay đổi về cơ chế, chính sách trong thời gian qua đã tạo ra bước chuyển đáng kể đối với hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo tại các trường đại học. Quan trọng hơn cả, các chính sách mới đã góp phần thay đổi tư duy từ "làm nghiên cứu để hoàn thành nhiệm vụ" sang nghiên cứu hướng tới tạo ra giá trị, sản phẩm và tác động thực tiễn.

Một trong những chuyển biến rõ nét là nhận thức về tài sản trí tuệ và thương mại hóa kết quả nghiên cứu đã được nâng lên. Ngay từ khi triển khai đề tài, các nhóm nghiên cứu đã quan tâm nhiều hơn đến việc đăng ký sáng chế, giải pháp hữu ích, bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ cũng như khả năng đưa kết quả nghiên cứu vào ứng dụng, thay vì chỉ dừng lại ở công bố khoa học.

Cùng với đó, các quy định mới đã từng bước tháo gỡ những rào cản trong hoạt động chuyển giao công nghệ, tạo điều kiện để các trường đại học chủ động hơn trong hợp tác với doanh nghiệp, ký kết hợp đồng nghiên cứu, chuyển giao sản phẩm và khai thác hiệu quả các kết quả nghiên cứu phục vụ phát triển kinh tế - xã hội.

Việc cải cách thủ tục hành chính trong quản lý khoa học và công nghệ cũng mang lại hiệu quả rõ rệt khi rút ngắn thời gian xử lý các thủ tục chuyên môn, giúp giảng viên và nhà khoa học dành nhiều nguồn lực hơn cho hoạt động nghiên cứu và phát triển công nghệ.

Tuy nhiên, Phó Giáo sư Nguyễn Vũ Quỳnh cho rằng, dư địa cải cách vẫn còn rất lớn. Một số quy định về tài chính, đầu tư mua sắm trang thiết bị, khai thác tài sản trí tuệ, cơ chế chia sẻ lợi ích và thương mại hóa kết quả nghiên cứu vẫn cần tiếp tục được hoàn thiện để tạo môi trường thuận lợi hơn cho các trường đại học phát huy vai trò là trung tâm đổi mới sáng tạo. Dẫu vậy, so với trước đây, môi trường pháp lý dành cho hoạt động khoa học, công nghệ đã cởi mở hơn đáng kể và đang tạo nền tảng quan trọng để các cơ sở giáo dục đại học mạnh dạn đầu tư cho nghiên cứu, chuyển giao công nghệ và hợp tác với doanh nghiệp.

phong-thuc-hanh-lac-hong.jpg
Phòng thực hành tự động hóa tại Trường Đại học Lạc Hồng. Ảnh: NVCC.

Chia sẻ về định hướng trong giai đoạn 2026-2030, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Vũ Quỳnh cho biết, Trường Đại học Lạc Hồng xác định nghiên cứu khoa học, đổi mới sáng tạo và chuyển giao công nghệ sẽ là một trong những trụ cột chiến lược, đóng vai trò dẫn dắt sự phát triển của nhà trường.

Trường sẽ ưu tiên xây dựng các nhóm nghiên cứu mạnh theo định hướng ứng dụng, đầu tư đồng bộ hệ thống phòng thí nghiệm hiện đại, phát triển các trung tâm đổi mới sáng tạo và thúc đẩy hệ sinh thái khởi nghiệp trong sinh viên. Đồng thời, nhà trường tiếp tục mở rộng hợp tác quốc tế, tăng cường liên kết với doanh nghiệp để hình thành các phòng nghiên cứu chung, triển khai các đề tài nghiên cứu theo đặt hàng và phát triển chương trình đào tạo gắn chặt với nhu cầu thực tiễn của thị trường lao động.

Để Nghị quyết 57 thực sự phát huy hiệu quả, cần tiếp tục hoàn thiện nhiều cơ chế, chính sách nhằm tạo động lực mạnh mẽ hơn cho hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trong các cơ sở giáo dục đại học. Cần sớm hoàn thiện cơ chế tự chủ trong hoạt động khoa học và công nghệ; ban hành các chính sách ưu đãi đủ sức hấp dẫn để khuyến khích doanh nghiệp đầu tư cho nghiên cứu và phát triển tại trường đại học; hình thành các quỹ đầu tư đổi mới sáng tạo quy mô lớn; đồng thời có cơ chế thu hút, đãi ngộ các nhà khoa học xuất sắc, chuyên gia quốc tế và trí thức người Việt Nam ở nước ngoài tham gia nghiên cứu, giảng dạy tại Việt Nam.

“Tôi kỳ vọng trong 5-10 năm tới, Nghị quyết sẽ tạo ra những chuyển biến mang tính nền tảng đối với hệ thống giáo dục đại học Việt Nam, đưa các trường đại học vượt ra khỏi vai trò truyền thống là cơ sở đào tạo để trở thành trung tâm nghiên cứu, đổi mới sáng tạo và chuyển giao công nghệ của từng địa phương, từng ngành và từng lĩnh vực kinh tế.

Hy vọng giai đoạn tới sẽ có ngày càng nhiều trường đại học Việt Nam hình thành các nhóm nghiên cứu đạt chuẩn quốc tế, sở hữu nhiều bằng sáng chế có giá trị thương mại, phát triển các doanh nghiệp khởi nguồn từ trường đại học (spin-off) và tạo ra nhiều sản phẩm công nghệ "Made in Vietnam" từ chính các phòng thí nghiệm trong nước”, Phó Giáo sư Nguyễn Vũ Quỳnh bày tỏ.

Thúy Hiền