Việc phát động, viết, chấm, công nhận sáng kiến kinh nghiệm trong ngành giáo dục luôn là đề tài được bàn luận khá nhiều bởi nó liên quan đến thành tích, danh hiệu của các nhà giáo khi đề tài đạt giải.
Thực tế cho thấy, việc đánh giá, xếp loại viên chức, xét danh hiệu thi đua trong những năm qua và cả trong dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều Luật Thi đua khen thưởng mà Bộ Tư pháp đang thẩm định thì tiêu chí sáng kiến kinh nghiệm vẫn luôn được xem trọng, đề cao.
Bởi lẽ, nếu như giáo viên thực hiện đúng nghĩa, cơ quan chức năng chấm khách quan, đề cao tính hiệu quả thì sáng kiến kinh nghiệm là một trong những hoạt động chuyên môn quan trọng, góp phần thúc đẩy đổi mới phương pháp dạy học, nâng cao chất lượng giáo dục và phát triển năng lực nghề nghiệp của đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý.
Tuy nhiên, thực tế thì chất lượng sáng kiến kinh nghiệm ở không ít đơn vị, địa phương vẫn chưa phát huy được giá trị ứng dụng. Nhiều sáng kiến kinh nghiệm công bố giải nhưng không có tính thực tiễn.
Bên cạnh những sáng kiến kinh nghiệm có giá trị thực tiễn, có khả năng áp dụng và nhân rộng, chúng ta thấy vẫn còn không ít sáng kiến còn bộc lộ những hạn chế, hình thức. Đó là, không ít đề tài sáng kiến kinh nghiệm đạt giải còn chung chung, xa rời thực tiễn quản lý, giảng dạy và giáo dục học sinh. Những sản phẩm còn nặng về lý thuyết, những lời hoa mỹ, cường điệu vấn đề nhưng yếu về khả năng áp dụng.
Một số đề tài có nội dung chủ yếu mang tính tổng hợp lý thuyết, trình bày khái niệm thiếu giải pháp mới. Những giải pháp đưa ra thiếu hẳn những minh chứng, hiệu quả thực tế, số liệu nên thiếu tính thuyết phục và khó áp dụng cho thực tiễn.
Một bộ phận giáo viên còn tâm lý viết sáng kiến kinh nghiệm để được xét thi đua, hoàn thành hồ sơ thi đua nên họ sẵn sàng bỏ ra một số tiền mua từ các trang mạng xã hội; có người xin đồng nghiệp ở tỉnh, thành khác; hoặc sao chép, cắt dán từ các đề tài trên mạng internet; nhờ chatGPT viết hộ…
Theo người viết, những hạn chế của việc thực hiện sáng kiến kinh nghiệm lĩnh vực giáo dục xuất phát từ nhiều nguyên nhân.
Thứ nhất: việc nhận thức về vai trò, ý nghĩa của sáng kiến kinh nghiệm ở một số cán bộ, giáo viên chưa đầy đủ.
Nhiều nhà giáo thấy cái lợi khi sáng kiến kinh nghiệm đạt giải, thấy đồng nghiệp mình viết có giải được khen thưởng, được xét danh hiệu cao thì cũng tham gia nhưng kinh nghiệm, khả năng chưa nhiều nên họ sẵn sàng “đầu tư” bằng nhiều cách khác nhau.
Trên các trang mạng xã hội của nhóm giáo viên hiện nay, việc mua bán sáng kiến kinh nghiệm thực hiện khá công khai, có người chào bán, có người hỏi mua rất rộn ràng. Người không mua thì đi xin của đồng nghiệp, hoặc trao đổi qua lại với nhau nhưng cũng có người âm thầm “tổng hợp” sáng kiến của mình từ nhiều sáng kiến đã có sẵn trên mạng.
Có người dùng AI (trí tuệ nhân tạo) viết. Vậy nên, không ít cán bộ, giáo viên ở một số trường học có năm viết đến 3-4 đề tài khác nhau để nhằm mục đích rớt cái này có cái kia đạt giải nhằm được xét nhiều danh hiệu, hình thức thi đua khác nhau.
Thứ hai: áp lực công việc chuyên môn, hồ sơ sổ sách khiến giáo viên thiếu thời gian đầu tư nghiên cứu nghiêm túc. Công tác hướng dẫn, góp ý, thẩm định sáng kiến kinh nghiệm ở một số nơi chưa được chú trọng, mạnh ai nấy viết. Thành ra, chất lượng của nhiều sáng kiến kinh nghiệm còn thấp.
Thứ ba: công tác chấm sáng kiến kinh nghiệm ở một số nơi chưa công tâm, khách quan.
Nhiều sáng kiến viết về chuyên môn nhưng lãnh đạo ngành không cơ cấu người chấm cùng chuyên môn mà chủ yếu tập trung cơ cấu cán bộ quản lý giáo dục làm giám khảo nên đâu đó có tình trạng xếp giải sáng kiến theo tên, vị trí công tác người viết. Tình trạng chấm theo kiểu “ngoại giao”, anh chấm cho tôi, tôi chấm cho anh không phải là hiếm.
Vì thế, hằng năm công bố giải sáng kiến kinh nghiệm xong, không ít nơi không công khai nội dung những sáng kiến đạt giải để địa phương, các nhà trường áp dụng. Người được giải thì hân hoan, vui mừng, người không đạt giải thì bàn tán. Những thị phi về sáng kiến kinh nghiệm vì thế mà luôn râm ran trong các câu chuyện của không ít giáo viên.
Một số giải pháp nâng cao chất lượng sáng kiến kinh nghiệm
Thực tế cho thấy những hướng dẫn, những yêu cầu về sáng kiến kinh nghiệm là một trong những tiêu chí để xét một số danh hiệu, hình thức thi đua trong những năm qua không sai. Bởi, những đề tài cải tiến, những sáng kiến kinh nghiệm đúng nghĩa đem vào áp dụng cho thực tế sẽ giúp các đơn vị, ngành giáo dục phát triển, nâng cao hiệu quả quản lý, nâng cao chất lượng dạy và học.
Nhưng, cái mà dư luận bàn tán là cách thực hiện, cách chấm của nhiều người, nhiều nơi có vấn đề. Vì thế, nếu toàn ngành thực hiện đúng, thực hiện có trách nhiệm thì sáng kiến kinh nghiệm sẽ trở về đúng với vị trí vốn có của nó. Muốn nâng cao chất lượng sáng kiến kinh nghiệm trong ngành giáo dục, theo chúng tôi cần thực hiện các vấn đề sau:
Thứ nhất: trước khi triển khai viết sáng kiến kinh nghiệm, sở giáo dục các địa phương cần tuyên truyền cho cán bộ, giáo viên, nhân viên ở các nhà trường hiểu rõ vai trò, mục đích sáng kiến kinh nghiệm.
Mỗi nhà giáo phải xác định được: sáng kiến kinh nghiệm là giải pháp cải tiến thực tiễn, không phải là “bài viết để đủ tiêu chuẩn”. Gắn việc viết sáng kiến kinh nghiệm với quá trình tự học, tự bồi dưỡng và đổi mới phương pháp dạy học và quản lý nhà trường.
Những đề tài sáng kiến kinh nghiệm phải xuất phát từ những khó khăn, vướng mắc cụ thể trong quản lý nhà trường, giảng dạy, công tác chủ nhiệm, quản lý lớp học, kiểm tra đánh giá. Ưu tiên các đề tài có quy mô vừa phải, dễ triển khai, dễ áp dụng và có khả năng nhân rộng ra các đơn vị khác.
Thứ hai: những sáng kiến kinh nghiệm cần thực hiện có chất lượng về nội dung và minh chứng cụ thể, không chung chung, hời hợt. Từng đề tài sáng kiến kinh nghiệm phải thể hiện được: lý do chọn đề tài - thực trạng trước khi áp dụng - giải pháp (cụ thể) và quá trình thực hiện - hiệu quả đạt được (có minh chứng bằng những số liệu) - khả năng áp dụng, nhân rộng.
Trong mỗi đề tài, người viết phải có minh chứng: cụ thể hóa số liệu so sánh trước và sau khi áp dụng, sản phẩm học sinh, hình ảnh, kế hoạch bài dạy, nhận xét của đồng nghiệp. Tránh sao chép, trùng lặp hoặc viết theo khuôn mẫu cứng nhắc.
Mỗi đề tài cần có xác nhận tính trung thực về số liệu minh chứng của ban giám hiệu, của cơ quan chủ quản người viết. Một khi xác nhận cũng đồng thời ràng buộc trách nhiệm với người xác nhận, ký tên, đóng dấu.
Thứ ba: đổi mới công tác đánh giá, công nhận sáng kiến kinh nghiệm dựa trên hiệu quả thực tế, không chạy theo hình thức trình bày. Nghĩa là những sáng kiến kinh nghiệm phải gắn với hiệu quả cụ thể đã được áp dụng chứ không phải là những từ ngữ hoa mỹ, chung chung.
Đơn vị phát động viết sáng kiến kinh nghiệm không cần thiết phải chạy theo số lượng mà cần coi trọng chất lượng và khả năng áp dụng. Những sáng kiến kinh nghiệm đạt giải thì đơn vị sử dụng kết quả đó để bồi dưỡng chuyên môn và xây dựng kế hoạch nhà trường, cấp quản lý giáo dục (nếu là lãnh đạo, chuyên viên sở).
Thứ tư: cơ cấu người chấm sáng kiến kinh nghiệm phải là những cán bộ, chuyên viên, giáo viên đúng chuyên môn với đề tài mà người viết thực hiện. Tránh tình trạng cơ cấu người chấm không cùng chuyên môn, không am hiểu về lĩnh vực người viết nhưng lại là người “cầm cân nảy mực”.
Việc cơ cấu người chấm không cùng chuyên môn sẽ dẫn đến kết quả không chính xác, chấm theo cảm tính, chấm theo tên, vị trí người viết. Từ đây, dẫn đến những điều thị phi không cần thiết sau khi công bố giải.
Thứ năm: sau mỗi năm thực hiện, những sáng kiến kinh nghiệm đạt giải, nhất là giải cao thì trường, xã (phường, đặc khu), sở giáo dục cần xây dựng ngân hàng sáng kiến kinh nghiệm. Trước khi gửi, cấp chấm sáng kiến kinh nghiệm phân loại thành 2 mục: quản lý giáo dục; giảng dạy để thuận lợi cho cán bộ quản lý, giáo viên tham khảo, học hỏi những cái hay, cái mới nhằm áp dụng vào thực tế công việc.
Một khi phát động, viết, chấm sáng kiến kinh nghiệm trong ngành giáo dục được thực hiện quy củ, khoa học, đề cao tính thực tiễn thì chất lượng sẽ được nâng lên. Những sáng kiến kinh nghiệm, ngoài việc nhân rộng những kinh nghiệm hay còn là thành tích cho nhà giáo xét thi đua một cách xứng đáng, không để “vàng, thau lẫn lộn” như những năm học vừa qua.
(*) Văn phong, nội dung bài viết thể hiện góc nhìn, quan điểm của tác giả.