"Người trong cuộc" chia sẻ những thách thức trong bồi dưỡng học sinh giỏi khu vực vùng cao

07/01/2026 10:08
Yên Đan
Theo dõi trên Google News
0:00 / 0:00
0:00

GDVN - Hiện nay chỉ còn thi cấp cụm, sau đó mới thi cấp tỉnh và mỗi môn học chỉ có số lượng học sinh giới hạn được vượt qua vòng cụm để dự thi cấp tỉnh.

Trong thời gian vừa qua, sự nghiệp giáo dục đào tạo vùng đồng bào dân tộc thiểu số có bước phát triển quan trọng. Hệ thống trường lớp, nhất là các trường phổ thông dân tộc nội trú, bán trú tiếp tục được củng cố; các chính sách miễn, giảm học phí, học bổng, cử tuyển, tín dụng học sinh-sinh viên được triển khai ngày càng hiệu quả. Để tiếp tục chăm lo, bồi dưỡng và phát triển nguồn nhân lực khu vực dân tộc thiểu số, thầy cô đang trực tiếp giảng dạy tại các trường đã có một số chia sẻ cụ thể.

Nhận diện học sinh có năng lực là một bước then chốt trong quá trình bồi dưỡng

Trao đổi với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, cô Hoàng Thị Nguyệt - Giáo viên tiếng Anh, Trường Phổ thông dân tộc bán trú Trung học cơ sở Trung Thịnh (xã Trung Thịnh, tỉnh Tuyên Quang) cho biết: “Được sự quan tâm và hỗ trợ của Nhà nước, nhà trường đã có điều kiện cải thiện không gian lớp học, tạo môi trường thuận lợi cho công tác giảng dạy. Đồng thời, nhà trường cũng đặc biệt chú trọng công tác bồi dưỡng học sinh giỏi, lĩnh vực mà tôi đã gắn bó và tích lũy kinh nghiệm nhiều năm.

Theo tôi, trước đây, khi chính quyền địa phương còn tổ chức theo mô hình ba cấp, các kỳ thi học sinh giỏi cấp huyện vẫn được duy trì. Dù còn nhiều hạn chế về điều kiện, nhưng đây là cơ hội để học sinh thử sức, rèn luyện và tích lũy kinh nghiệm.

Tuy nhiên, từ khi thực hiện mô hình chính quyền hai cấp và sáp nhập địa giới hành chính về tỉnh Tuyên Quang, công tác bồi dưỡng học sinh giỏi gặp một số thách thức hơn. Tôi nhận thấy sự chênh lệch rõ rệt giữa học sinh Hà Giang cũ và học sinh ở các khu vực khác của tỉnh, cả về nền tảng kiến thức, điều kiện học tập lẫn khả năng tiếp cận tri thức. Đặc biệt, học sinh vùng cao, miền núi, nơi điều kiện giáo dục còn hạn chế, gặp nhiều khó khăn hơn so với các em ở những khu vực thuận lợi.

Trong bối cảnh đó, việc ôn luyện để học sinh có thể tham gia và đạt kết quả tại các kỳ thi học sinh giỏi cấp tỉnh trở thành một quá trình gian nan, đòi hỏi nỗ lực bền bỉ và lâu dài của cả thầy và trò. Tuy vậy, đây cũng là cơ hội để học sinh dân tộc thiểu số được quan tâm hơn, từ đó tạo nền tảng quan trọng cho việc phát hiện, bồi dưỡng và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao từ những vùng đặc biệt khó khăn”.

Theo cô Nguyệt, cơ chế thi hiện nay cũng tạo ra những thách thức nhất định. Hiện nay chỉ còn thi cấp cụm, sau đó mới được thi cấp tỉnh và mỗi môn học chỉ có số lượng học sinh giới hạn được vượt qua vòng cụm để dự thi cấp tỉnh. Cơ chế này làm tăng áp lực đối với cả thầy cô và học sinh, vì để có một học sinh đạt giải cấp tỉnh đã là một thành tựu rất lớn, đặc biệt đối với một trường vùng sâu, vùng xa.

z7384632830132-8921bff03f1dd6b09c44f7af8fcadc90-3999.jpg
Cô Hoàng Thị Nguyệt - Giáo viên tiếng Anh Trường Phổ thông dân tộc bán trú Trung học cơ sở Trung Thịnh (xã Xín Mần, tỉnh Tuyên Quang). Ảnh: NVCC

Trước đây, giáo viên có thể kỳ vọng có nhiều học sinh đạt giải cao, nhưng trong thực tế hiện nay, ngay việc có một học sinh vượt qua vòng cụm cũng đã là một nỗ lực cực kỳ đáng quý. Đây không còn là vấn đề chỉ nằm ở ôn luyện, mà còn phụ thuộc vào sự phối hợp đồng bộ giữa nhà trường, thầy cô và các cấp quản lý giáo dục. Sự chênh lệch giữa học sinh các vùng cũng cần thời gian để bù đắp để các em vùng cao có thể theo kịp các em ở vùng thuận lợi. Mặt khác, các thầy cô cũng cần đầu tư lâu dài, truyền đạt chuyên sâu, kết hợp chỉ đạo từ Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh để tạo ra nền tảng kiến thức vững chắc cho học sinh.

“Ngoài ra, nhận diện học sinh có năng lực là một bước then chốt trong quá trình bồi dưỡng. Năng lực và tiềm năng của các em thường thể hiện qua sự tự tin, khả năng phát biểu, sẵn sàng chia sẻ kiến thức, đam mê học tập và nhiệt huyết với môn học. Trong đó, đối với môn ngôn ngữ, năng khiếu đóng vai trò đặc biệt quan trọng, do vậy, các em cần có niềm say mê và tâm huyết để học tập hiệu quả.

Để phát huy tối đa năng lực của học sinh, tôi cho rằng cần tiếp tục nâng cao chất lượng bồi dưỡng và đào tạo giáo viên, qua đó giúp họ nắm vững kiến thức và phương pháp truyền đạt hiệu quả. Đồng thời, các chính sách hỗ trợ học sinh, nhất là những em ở trường dân tộc nội trú, bán trú cũng cần được chú trọng nhằm tạo điều kiện học tập tốt nhất, khơi dậy niềm đam mê và phát triển năng lực cá nhân. Khi học sinh được trang bị đầy đủ kiến thức và kỹ năng, các em sẽ trở thành nguồn lực chất lượng cao, đóng góp cho xã hội sau này.

Nhìn chung, việc đầu tư cho giáo viên, tạo cơ chế đào tạo và hỗ trợ lâu dài, kết hợp với phát hiện và bồi dưỡng đúng năng lực học sinh chính là nền tảng để hình thành những thế hệ cán bộ xuất thân từ vùng dân tộc thiểu số, góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và phát triển bền vững đất nước”, cô Nguyệt nêu quan điểm.

Cùng bàn vấn đề này, cô Lò Thị Viên (dân tộc Khớ Mú) - Giáo viên Trường Trung học phổ thông Na Sang (xã Na Sang, tỉnh Điện Biên) bày tỏ, công tác giáo dục vùng dân tộc thiểu số hiện nay đang nhận được sự quan tâm đặc biệt từ lãnh đạo Đảng và Nhà nước. Đây là tín hiệu đáng mừng, đồng thời cũng đặt ra yêu cầu tiếp tục chăm lo, bồi dưỡng và phát triển nguồn nhân lực này.

z7193037935503-b12ebd4f2fabe802fcf370d70c13d76e.jpg
Cô Lò Thị Viên (dân tộc Khớ Mú) - Giáo viên Trường Trung học phổ thông Na Sang (xã Na Sang, tỉnh Điện Biên). Ảnh: NVCC

“Tại nhà trường, khoảng 80% học sinh là dân tộc thiểu số, chủ yếu là người Mông, người Thái và người Khơ Mú. Bản thân tôi cũng xuất thân là người dân tộc thiểu số nên tôi luôn ý thức việc truyền cảm hứng và nuôi dưỡng ý chí học tập cho các em.

Theo tôi, yếu tố quyết định để một học sinh dân tộc vươn lên là ý chí và sự quyết tâm. Dù Nhà nước và Đảng đã tạo điều kiện thuận lợi, hỗ trợ về vật chất, chính sách học tập và ăn ở nhưng nếu học sinh không có quyết tâm vươn lên thì khó có thể thành công. Đây là bài học tôi rút ra từ chính hành trình trưởng thành của mình và từ quan sát các học sinh ở địa phương”, cô Viên chia sẻ.

Trên cơ sở đó, trong công tác dạy học và bồi dưỡng, cô Viên luôn chú trọng phát hiện học sinh có năng lực nổi trội dựa trên cả thành tích học tập và thái độ. Việc quan sát năng lực các em thường được thể hiện qua các hoạt động phong trào, sự tham gia tập thể và định hướng nghề nghiệp. Nhờ đó, giáo viên có thể nhận diện những học sinh có tố chất đặc biệt để bồi dưỡng chuyên sâu, thay vì ôn luyện đại trà, giúp nâng cao hiệu quả công tác đào tạo.

Bên cạnh đó, để thực hiện tốt công tác bồi dưỡng, điều kiện cơ sở vật chất cũng là yếu tố quan trọng. Cô Viên cho biết, lớp học và trang thiết bị hiện nay đã đảm bảo, phòng học khang trang, có bàn ghế, máy chiếu đầy đủ.

Tuy nhiên, khó khăn lớn nhất hiện nay là khu nội trú của học sinh. Với hơn 800 học sinh, các nhà ở nội trú đã xuống cấp sau hơn chục năm sử dụng, thiếu phòng, thiếu nước sinh hoạt, điều kiện sống chưa đảm bảo, ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng học tập và sinh hoạt. Đây là vấn đề cần được quan tâm hơn nữa, bởi môi trường sống ổn định sẽ giúp học sinh yên tâm học tập và phát triển năng lực.

“Ngoài ra, hầu hết các em là học sinh dân tộc thiểu số, vì vậy năng lực tiếp cận tri thức ban đầu còn hạn chế. Chỉ những em thực sự đam mê mới có thể học tốt và phát huy năng lực của mình. Bởi thực tế có nhiều em chỉ học để hoàn thành chương trình, thiếu đi sự đam mê và hứng thú. Điều này làm công tác bồi dưỡng học sinh giỏi trở nên khó khăn hơn, đòi hỏi sự kiên nhẫn và hướng dẫn sát sao từ giáo viên.

Từ thực tế này, tôi đề xuất cần có các chính sách hỗ trợ nhằm phát hiện và bồi dưỡng học sinh tài năng. Trước hết, các chính sách học bổng và ưu tiên cho học sinh xuất sắc, có đạo đức tốt, học lực giỏi, đặc biệt là những em có hoàn cảnh khó khăn cần được duy trì và phát triển, giúp các em có cơ hội theo học các trường đại học mong muốn. Bên cạnh đó, việc định hướng nghề nghiệp ngay từ cấp trung học phổ thông sẽ giúp tạo ra nguồn nhân lực chất lượng cao, góp phần phát triển địa phương một cách bền vững.

Tôi cho rằng mục tiêu quan trọng nhất là giáo dục dân tộc thiểu số cần hướng tới phát triển toàn diện. Nhà trường cần tạo điều kiện học tập tốt nhất, giúp học sinh dân tộc thiểu số tiếp cận kiến thức, nuôi dưỡng ước mơ và phát triển năng lực cá nhân.

Trong thời kỳ đổi mới giáo dục, sự hỗ trợ này không chỉ giúp các em học tập hiệu quả mà còn chuẩn bị nguồn cán bộ, nhân lực trẻ chất lượng cho địa phương trong tương lai. Tôi kỳ vọng rằng, thông qua các chính sách hỗ trợ, bồi dưỡng và học bổng, tất cả học sinh dân tộc thiểu số sẽ có cơ hội học tập công bằng, phát triển năng lực và đóng góp tích cực cho sự phát triển chung của đất nước”, cô Viên nhấn mạnh.

Yếu tố tác động đến công tác bồi dưỡng học sinh giỏi

Theo cô Thàm Thị Vân Anh - Giáo viên dạy phân môn Sinh học Trường Phổ thông dân tộc bán trú Tiểu học và Trung học cơ sở Sà Phìn (xã Sà Phìn, tỉnh Tuyên Quang), để tiếp tục chăm lo, bồi dưỡng và phát huy tốt hơn nữa vai trò của thế hệ trẻ người dân tộc thiểu số, việc đánh giá hiệu quả công tác bồi dưỡng học sinh giỏi là cần thiết để nâng cao chất lượng giáo dục ở các vùng dân tộc thiểu số.

z7384670571470-aa514771a5907b37f4b3d437d1815ee7.jpg
Học sinh dân tộc đang thảo luận trong tiết Sinh học. Ảnh: NVCC

Trong năm học 2024-2025, công tác bồi dưỡng học sinh giỏi cũng gặp nhiều khó khăn. Nguyên nhân chủ yếu là thiếu giáo viên, dẫn đến việc cô phải tăng cường giảng dạy ở 2 nơi khác nhau. Trong khi đó, việc phát hiện học sinh có năng lực đặc biệt không thể chỉ dựa vào kết quả thi hay đánh giá một lần, mà cần thực hiện liên tục trong suốt quá trình dạy học, kết hợp quan sát, hướng dẫn và khuyến khích các em tham gia các hoạt động học tập chuyên sâu.

Thách thức càng lớn hơn khi năng lực học tập và nhận thức của các em còn hạn chế, đặc biệt ở các kỹ năng tự học, tin học và khả năng tư duy sáng tạo. Đây đều là những yếu tố quan trọng để theo học chương trình giáo dục phổ thông mới.

“Ngoài ra, cơ sở vật chất và đội ngũ giáo viên cũng gặp một số khó khăn. Một lớp hiện có tới 48 học sinh, vượt quá quy định 35 học sinh/lớp, trong khi phòng học và các thiết bị học tập vẫn còn hạn chế. Việc thiếu giáo viên buộc các thầy cô hiện có phải đảm nhận nhiều tiết dạy hơn, ảnh hưởng trực tiếp đến thời gian bồi dưỡng học sinh giỏi.

Mặc dù Nhà nước đã quan tâm và có các chế độ hỗ trợ nhưng việc học tập của các em vẫn chịu ảnh hưởng bởi điều kiện gia đình, nhận thức của phụ huynh và đặc thù của các vùng sâu, vùng xa.

Giáo viên vẫn thường xuyên động viên, hướng dẫn các em tự học, đặc biệt là buổi tối khi phụ huynh không có điều kiện kèm cặp. Tuy nhiên, vẫn có những hạn chế. Đây là những trở ngại cần được các cấp quản lý giáo dục và chính quyền địa phương quan tâm để tạo điều kiện học tập tốt nhất, giúp học sinh dân tộc thiểu số phát huy năng lực và tiềm năng”, cô Vân Anh thông tin.

Do đó, cô Vân Anh bày tỏ, trước hết cần đảm bảo đủ đội ngũ giáo viên và cơ sở vật chất cho các lớp học, tạo điều kiện thuận lợi cho việc bồi dưỡng học sinh giỏi. Bên cạnh đó, các chính sách hỗ trợ như học bổng, trang thiết bị học tập, cơ sở vật chất cùng với tuyên truyền nâng cao nhận thức cho phụ huynh là cần thiết để các em có thể tập trung học tập, phát triển kỹ năng và theo đuổi ước mơ. Nếu có sự hỗ trợ toàn diện này, các em học sinh dân tộc thiểu số sẽ có cơ hội tiếp cận giáo dục chất lượng, phát huy năng lực và sau này đóng góp cho sự phát triển của địa phương và đất nước.

Yên Đan