Hiện nay, Bộ Giáo dục và Đào tạo đang tiến hành tổ chức nghiên cứu các phương án điều chỉnh Chương trình Giáo dục phổ thông 2018. Có lẽ, một trong những vấn đề được đội ngũ nhà giáo quan tâm là các môn học tích hợp ở cấp trung học cơ sở, đặc biệt là môn Khoa học tự nhiên và Lịch sử và Địa lí.
Chủ trương tích hợp nhằm khắc phục sự phân mảnh kiến thức, tăng cường tính liên môn và phát triển năng lực học sinh. Tuy nhiên, sau một thời gian triển khai thực tế, giáo viên, nhà trường đang nhìn thấy các môn học tích hợp hiện nay đang đặt ra nhiều khó khăn về chuyên môn, đội ngũ giáo viên và chất lượng dạy học.
Vì vậy, việc nghiên cứu điều chỉnh chương trình theo hướng tách các môn tích hợp ở cấp trung học cơ sở thành những môn độc lập như trước đây cần được xem xét đầy đủ. Bởi, hơn 5 năm học trôi qua, dù mang tên là các môn học tích hợp nhưng đa phần các địa phương, trường học vẫn đang phân công giảng dạy theo phân môn.
Thực tiễn triển khai cho thấy nhiều bất cập
Ở cấp trung học cơ sở, môn Khoa học tự nhiên tích hợp kiến thức Vật lí, Hóa học và Sinh học; môn Lịch sử và Địa lí kết hợp hai lĩnh vực khoa học có đối tượng, phương pháp và đặc trưng nghiên cứu khác nhau.
Về mặt lý thuyết, tích hợp có thể tạo ra sự kết nối giữa các lĩnh vực nhưng để triển khai hiệu quả, đòi hỏi giáo viên phải có năng lực chuyên môn vững vàng ở nhiều phân môn, đồng thời được đào tạo và bồi dưỡng phù hợp.
Thực tế cho thấy, mỗi môn học có hệ thống khái niệm, phương pháp tư duy và đặc thù chuyên ngành riêng. Vật lí đòi hỏi tư duy định lượng và khả năng vận dụng các quy luật tự nhiên. Hóa học có hệ thống kiến thức về chất, phản ứng hóa học và thực hành thí nghiệm. Sinh học tập trung vào thế giới sống, cấu trúc và các quá trình sinh học.
Tương tự, Lịch sử và Địa lí cũng có những phương pháp tiếp cận riêng, từ phân tích sự kiện, tiến trình lịch sử đến nhận thức không gian, lãnh thổ và các hiện tượng địa lí.
Khi yêu cầu một giáo viên đảm nhiệm nhiều lĩnh vực, cần đặt ra câu hỏi: Liệu giáo viên có đủ thời gian, điều kiện và năng lực chuyên môn để bảo đảm chất lượng đồng đều ở tất cả nội dung được phân công?
Khi giáo viên không được đào tạo chuyên sâu, việc giảng dạy cả môn học tích hợp có thể dẫn đến tình trạng dạy học thiếu chiều sâu, giáo viên gặp khó khăn ở những nội dung không thuộc chuyên ngành đào tạo chính, còn học sinh chưa được tiếp cận kiến thức một cách đầy đủ.
Do đó, tách các môn học thành những môn độc lập có thể giúp xác định rõ hơn trách nhiệm chuyên môn, phát huy thế mạnh của giáo viên và tạo điều kiện cho học sinh học tập theo từng lĩnh vực khoa học. Học sinh cũng thuận lợi hơn trong học tập, kiểm tra.
Thực tế qua 5 năm triển khai, dù là môn học tích hợp nhưng dạy theo phân môn; kiểm tra theo phân môn; thi học sinh giỏi theo phân môn. Đến khi, một số em thi tuyển sinh 10 vào các lớp chuyên thì cũng thi theo phân môn.
Vô tình, các môn học tích hợp mới “tích” được cái tên trên bìa sách giáo khoa. Còn lại, mọi thứ vẫn riêng lẻ như trước đây nhưng lại tạo ra sự rối rắm khi thực hiện phân công, giảng dạy và học tập.
Cần xem xét đề xuất tách các môn học tích hợp thành môn riêng
Từ thực tiễn triển khai, người viết bài cho rằng ngành Giáo dục cần hướng đến các giải pháp sau:
Thứ nhất, Bộ cần đánh giá toàn diện hiệu quả của các môn tích hợp trong những năm học vừa qua. Việc đánh giá cần dựa trên thực tế phân công giảng dạy, kết quả học tập của học sinh, năng lực thực tế của giáo viên, điều kiện tổ chức dạy học và mức độ phù hợp của chương trình.
Thứ hai, nghiên cứu tách môn Khoa học tự nhiên hiện nay thành 3 môn: Vật lí, Hóa học và Sinh học; tách môn Lịch sử và Địa lí thành 2 môn: Lịch sử, Địa lí. Việc điều chỉnh cần có lộ trình, chương trình chi tiết, kế hoạch đào tạo và bố trí đội ngũ phù hợp.
Thứ ba, khi cần dạy học liên môn thông qua các chủ đề và dự án giáo dục. Giáo viên các môn học có thể phối hợp, nhưng không nhất thiết phải gánh vác toàn bộ nội dung ngoài chuyên môn đào tạo chính. Những chủ đề và dự án giáo dục phải thực sự ý nghĩa, cần thiết và hướng đến hiệu quả, không thực hiện theo phong trào, hình thức.
Thứ tư, các trường học cần bảo đảm tính ổn định của đội ngũ giáo viên. Mọi thay đổi chương trình cần gắn với phương án bố trí việc làm, định mức giảng dạy và bồi dưỡng chuyên môn, tránh để giáo viên tiếp tục rơi vào tình trạng phải dạy những nội dung chưa được chuẩn bị đầy đủ.
Một chương trình giáo dục hiệu quả không chỉ được đánh giá qua mục tiêu đổi mới, mà còn phải được kiểm chứng bằng khả năng triển khai trong thực tế. Nếu mô hình tích hợp đang tạo ra bất cập về chuyên môn, đội ngũ thì việc điều chỉnh là cần thiết.
Đổi mới giáo dục không phải là giữ nguyên một mô hình bằng mọi giá, mà là sẵn sàng điều chỉnh những điểm chưa phù hợp để phục vụ tốt hơn việc dạy và học.
Mục tiêu cuối cùng là xây dựng một chương trình vừa khoa học, vừa khả thi, giúp giáo viên phát huy chuyên môn và học sinh được học tập vững chắc, toàn diện chứ không manh mún, bất cập như hiện nay.
(*) Văn phong, nội dung bài viết thể hiện góc nhìn, quan điểm của tác giả.