Chuẩn CTĐT giáo dục nghề nghiệp: Yêu cầu người học có năng lực số, kỹ năng xanh trong chuẩn đầu ra

17/07/2026 11:22
Tường San
Theo dõi trên Google News
0:00 / 0:00
0:00

GDVN -Thông tư số 55/2026/TT-BGDĐT đã quy định rõ về các điều kiện chuẩn cần đáp ứng đối với chương trình đào tạo trình độ cao đẳng, chương trình đào tạo trình độ trung cấp và chương trình giáo dục trung học nghề.

Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành Thông tư số 55/2026/TT-BGDĐT về quy định chuẩn chương trình đào tạo giáo dục nghề nghiệp, áp dụng đối với các cơ sở hoạt động giáo dục nghề nghiệp thực hiện chương trình đào tạo cấp văn bằng của Việt Nam trong giáo dục nghề nghiệp; các tổ chức và cá nhân có liên quan.

Theo đó, chuẩn chương trình đào tạo giáo dục nghề nghiệp được xây dựng cho từng ngành, nghề đặc thù và cho từng lĩnh vực hoặc nhóm ngành, nhóm nghề đào tạo đối với các ngành, nghề khác không phải ngành, nghề đặc thù theo Danh mục ngành, nghề đào tạo trong giáo dục nghề nghiệp, gồm 07 nội dung: Mục tiêu; Chuẩn đầu ra; Yêu cầu đầu vào; Khối lượng học tập tối thiểu; Cấu trúc chương trình; Phương pháp giảng dạy và đánh giá; Các điều kiện bảo đảm chất lượng để thực hiện chương trình đào tạo.

2eacc949-4296-4568-a785-5409cd1253ab.png
Ảnh tạo bằng AI.

Thứ nhất, về mục tiêu, thông tư quy định, mục tiêu của chương trình đào tạo giáo dục nghề nghiệp phải được mô tả cụ thể, rõ ràng, thể hiện định hướng đào tạo của lĩnh vực, nhóm ngành, nhóm nghề hoặc ngành, nghề đặc thù; bảo đảm phù hợp với mục tiêu đào tạo quy định tại khoản 2 Điều 6 của Luật Giáo dục nghề nghiệp, phù hợp với bậc trình độ tương ứng trong Khung trình độ quốc gia Việt Nam, yêu cầu của thị trường lao động và hội nhập quốc tế; Làm rõ định hướng phát triển của người học sau khi hoàn thành chương trình đào tạo, bao gồm khả năng tham gia thị trường lao động, khả năng học tập nâng cao trình độ, học tập suốt đời và triển vọng phát triển nghề nghiệp.

Thứ hai, về chuẩn đầu ra, phải xác định rõ các yêu cầu về phẩm chất và năng lực của người học, bao gồm các yêu cầu về kiến thức, kỹ năng, năng lực tự chủ và trách nhiệm; bảo đảm có thể đo lường, đánh giá được; Xác định rõ bậc trình độ cụ thể, đáp ứng yêu cầu của bậc trình độ tương ứng trong Khung trình độ quốc gia Việt Nam; Xác định rõ các yêu cầu về năng lực ngoại ngữ, năng lực số, kỹ năng xanh; Bảo đảm tính khả thi, khả năng liên thông trong đào tạo và phù hợp với khối lượng học tập, yêu cầu đầu vào của chương trình đào tạo.

Thứ ba, về yêu cầu đầu vào, mỗi chương trình đào tạo phải đáp ứng các yêu cầu tối thiểu. Đối với chương trình đào tạo trình độ cao đẳng, người học đã tốt nghiệp trung học phổ thông, trung học nghề hoặc tương đương trở lên; Đối với chương trình đào tạo trình độ trung cấp, người học phải tốt nghiệp trung học phổ thông, trung học nghề hoặc tương đương trở lên; trường hợp người học học các ngành, nghề đặc thù thuộc lĩnh vực nghệ thuật, thể dục, thể thao và các lĩnh vực khác thực hiện theo quy định của Thủ tướng Chính phủ. Việc tuyển sinh đối với người đã hoàn thành chương trình giáo dục trung học cơ sở được thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 45 của Luật Giáo dục nghề nghiệp; Đối với chương trình giáo dục trung học nghề, người học phải hoàn thành chương trình giáo dục trung học cơ sở hoặc tương đương.

Thứ tư, về khối lượng học tập tối thiểu, khối lượng học tập của chương trình đào tạo được tính bằng tín chỉ, không nhỏ hơn khối lượng học tập tối thiểu theo bậc trình độ tương ứng quy định tại Khung trình độ quốc gia Việt Nam. Một tín chỉ tương đương 45 giờ học tập của người học, bao gồm thời gian lý thuyết (gồm lý thuyết trên lớp, tự học, thi, kiểm tra); thời gian thực hành (gồm thực hành, thực tập, thí nghiệm, thảo luận tại trường, tại doanh nghiệp hoặc nơi sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, làm tiểu luận, bài tập lớn, đồ án, khoá luận tốt nghiệp, tự học, thi, kiểm tra). Một tín chỉ phải thực hiện tối thiểu 15 giờ lý thuyết trên lớp hoặc 30 giờ thực hành, thực tập, thí nghiệm, thảo luận tại trường, tại doanh nghiệp hoặc nơi sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, làm tiểu luận, bài tập lớn, đồ án, khoá luận tốt nghiệp. Một giờ học lý thuyết trên lớp là 45 phút; một giờ học thực hành, thực tập, thí nghiệm tại trường, tại doanh nghiệp, tại nơi sản xuất, kinh doanh, dịch vụ hoặc kết hợp giữa lý thuyết và thực hành là 60 phút.

Theo đó, đối với chương trình đào tạo trình độ cao đẳng, tuỳ theo từng ngành, nghề đào tạo, thời gian lý thuyết chiếm từ 30% đến 50%; thời gian thực hành chiếm từ 50% đến 70% tổng khối lượng học tập của chương trình; Đối với chương trình đào tạo trình độ trung cấp, tuỳ theo từng ngành, nghề đào tạo, thời gian lý thuyết chiếm từ 25% đến 45%; thời gian thực hành chiếm từ 55% đến 75% tổng khối lượng học tập của chương trình; Đối với chương trình giáo dục trung học nghề, khối lượng học tập của chương trình giáo dục trung học nghề bao gồm khối lượng kiến thức chương trình trung học phổ thông có định hướng nghề nghiệp và khối lượng kiến thức chuyên môn nghề. Khối lượng kiến thức chương trình trung học phổ thông có định hướng nghề nghiệp chiếm từ 40% đến 50% và khối lượng kiến thức chuyên môn nghề chiếm từ 50% đến 60% tổng khối lượng học tập của chương trình;

Như vậy, tùy theo từn ngành, nghề đào tạo, phần chuyên môn nghề có thời gian lý thuyết chiếm từ 30% đến 45%; thời gian thực hành chiếm từ 55% đến 70%.

Tỷ lệ thời gian lý thuyết và thời gian thực hành trong tổng khối lượng học tập của chương trình đào tạo các ngành, nghề đặc thù được phép điều chỉnh cho phù hợp với đối tượng người học và được quy định trong chuẩn chương trình đào tạo ngành, nghề đặc thù.

Thứ năm, về cấu trúc chương trình, bao gồm phần môn học chung và phần chuyên môn nghề. Trong đó, phần môn học chung bao gồm các môn học và thời lượng được quy định tại Phụ lục VII kèm theo Thông tư này; việc biên soạn, thẩm định, ban hành chương trình, giáo trình các môn học chung thực hiện theo quy định của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo; Phần chuyên môn nghề bao gồm các môn học, mô đun cơ sở; các môn học, mô đun chuyên môn và các nội dung học tập khác do cơ sở hoạt động giáo dục nghề nghiệp xác định, bảo đảm phù hợp với mục tiêu và chuẩn đầu ra của chương trình và đáp ứng các yêu cầu quy định trong chuẩn chương trình đào tạo cho khối ngành, nghề hoặc ngành, nghề đặc thù. Cấu trúc chương trình giáo dục trung học nghề bao gồm phần kiến thức chương trình trung học phổ thông và phần chuyên môn nghề.

Thứ sáu, về phương pháp giảng dạy và đánh giá. Phương pháp giảng dạy phải bảo đảm tính khoa học, linh hoạt và đa dạng, phù hợp với đặc điểm ngành, nghề đào tạo, người học và phương thức tổ chức đào tạo; ứng dụng công nghệ thông tin, công nghệ, thiết bị dạy học hiện đại; khai thác dữ liệu, học liệu số và tài nguyên giáo dục mở phù hợp trong tổ chức dạy học; phải lấy người học làm trung tâm của quá trình đào tạo; phát huy tính tích cực, chủ động, tiềm năng và khả năng tự học của người học; góp phần bảo đảm người học đạt được chuẩn đầu ra của chương trình đào tạo.

Đánh giá kết quả học tập phải phù hợp với nội dung chương trình đào tạo, hình thức và phương thức tổ chức đào tạo; Bảo đảm khách quan, công bằng, chính xác, phản ánh đúng năng lực của người học; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và có sự tham gia của người sử dụng lao động; Làm cơ sở để kịp thời điều chỉnh hoạt động giảng dạy và học tập, hỗ trợ người học tiến bộ và cải tiến việc tổ chức thực hiện chương trình đào tạo.

Thứ bảy, về các điều kiện bảo đảm chất lượng để thực hiện chương trình đào tạo, bao gồm đội ngũ giảng dạy và yêu cầu về cơ sở vật chất.

Đối với yêu cầu về giảng viên, giáo viên, người dạy nghề của chương trình đào tạo trình độ cao đẳng, trình độ trung cấp, phải có đủ số lượng giảng viên, giáo viên để giảng dạy phần môn học chung và phần chuyên môn nghề, bảo đảm giảng viên, giáo viên đạt trình độ chuẩn được đào tạo, năng lực sư phạm, năng lực thực hành nghề;

Tỷ lệ học sinh, sinh viên/giáo viên, giảng viên theo quy định của pháp luật; chương trình giáo dục trung học nghề có đủ số lượng giáo viên để giảng dạy nội dung kiến thức chương trình trung học phổ thông trong chương trình giáo dục trung học nghề và chuyên môn nghề, bảo đảm giáo viên đạt trình độ chuẩn được đào tạo, năng lực sư phạm, năng lực thực hành nghề; tỷ lệ học sinh/giáo viên theo quy định của pháp luật;

Người dạy nghề (nếu có) tham gia nhiệm vụ giảng dạy, hướng dẫn thực hành tại doanh nghiệp, hợp tác xã để thực hiện các chương trình đào tạo trình độ cao đẳng, chương trình đào tạo trình độ trung cấp và chương trình giáo dục trung học nghề theo quy định của pháp luật; Giảng viên, giáo viên là người nước ngoài phải đáp ứng các quy định của pháp luật Việt Nam về người nước ngoài vào làm quản lý, giảng dạy, nghiên cứu khoa học và trao đổi học thuật tại các cơ sở giáo dục của Việt Nam.

Đối với yêu cầu về cơ sở vật chất, thiết bị, công nghệ và giáo trình, học liệu, cơ sở hoạt động giáo dục nghề nghiệp phải bảo đảm điều kiện về cơ sở vật chất phục vụ đào tạo, bao gồm phòng học lý thuyết; phòng, xưởng, nơi thực hành, thực tập; phòng thí nghiệm; phòng học tập chuyên môn; phòng mô phỏng hoặc cơ sở sản xuất thử nghiệm phù hợp với số lượng tuyển sinh, quy mô đào tạo, chương trình đào tạo và quy định khác của pháp luật;

Thiết bị, dụng cụ, nguyên vật liệu của cơ sở hoạt động giáo dục nghề nghiệp phải bảo đảm số lượng, chủng loại, chất lượng đáp ứng nội dung chương trình đào tạo và quy định của pháp luật có liên quan; bảo đảm tỷ lệ thực hành theo chuẩn chương trình đào tạo cho khối ngành, nghề hoặc ngành, nghề đặc thù và yêu cầu an toàn, vệ sinh lao động. Tăng cường áp dụng công nghệ tiên tiến, trí tuệ nhân tạo, thiết bị hiện đại, thiết bị số và mô phỏng trong đào tạo, công nghệ thực tại ảo, thực tại ảo tăng cường, công nghệ kết hợp mô phỏng và bản sao số;

Bảo đảm hệ thống công nghệ thông tin phục vụ quản lý và tổ chức đào tạo (bao gồm hệ thống quản lý học tập, quản lý nội dung, kiểm tra, đánh giá và lưu trữ dữ liệu điện tử) và khả năng triển khai các hình thức đào tạo trực tiếp, trực tuyến hoặc kết hợp, đáp ứng yêu cầu về chuẩn dữ liệu, an toàn thông tin theo lộ trình phù hợp với điều kiện của nhà trường và theo quy định của pháp luật;

Bảo đảm thư viện, giáo trình và học liệu phù hợp với chương trình đào tạo. Khuyến khích xây dựng, khai thác và sử dụng chung học liệu giữa các cơ sở hoạt động giáo dục nghề nghiệp hoặc khai thác, sử dụng học liệu phù hợp của doanh nghiệp, tổ chức trong và ngoài nước; khuyến khích thành lập thư viện điện tử, phát triển học liệu số;

Cơ sở vật chất, thiết bị, công nghệ và giáo trình, học liệu quy định tại khoản này bảo đảm được sử dụng hiệu quả, bền vững, tránh đầu tư dàn trải và lãng phí. Khuyến khích hợp tác, liên kết với các cơ sở hoạt động giáo dục nghề nghiệp khác và doanh nghiệp theo quy định của pháp luật để phục vụ công tác đào tạo.

Thông tư này có hiệu lực kể từ ngày 30/06/2026.

Tuy nhiên, trước ngày 31/12/2026, cơ sở hoạt động giáo dục nghề nghiệp được phép rà soát, cập nhật, ban hành chương trình đào tạo theo các quy định đã ban hành trước khi Thông tư này có hiệu lực và được sử dụng chương trình đào tạo đó cho đến khi kết thúc khóa học.

Chi tiết chuẩn chương trình đào tạo giáo dục nghề nghiệp tại đây.

Tường San