Việt Nam hiện có mô hình đại học quốc gia và đại học vùng với những sứ mạng đặc thù trong hệ thống giáo dục đại học. Đây là mô hình được hình thành nhằm tạo ra những trung tâm đào tạo, nghiên cứu đa ngành, đa lĩnh vực; tập trung nguồn lực để phát triển các lĩnh vực mũi nhọn; đồng thời tăng cường liên kết, phục vụ những nhiệm vụ phát triển ở tầm quốc gia và vùng.

Qua quá trình xây dựng và phát triển, mô hình này đã có những đóng góp quan trọng cho giáo dục đại học Việt Nam. Các đại học quốc gia và đại học vùng đã trở thành những trung tâm đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ và kết nối với các địa phương, doanh nghiệp và cộng đồng.

Tuy nhiên, giáo dục đại học đang bước vào một giai đoạn phát triển mới. Tự chủ đại học ngày càng được đề cao; quản trị chuyển từ tư duy quản lí hành chính sang quản trị theo mục tiêu, hiệu quả và trách nhiệm giải trình; khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đang làm thay đổi mạnh mẽ phương thức tổ chức và vận hành các cơ sở giáo dục đại học.

Trong bối cảnh đó, mô hình đại học quốc gia, đại học vùng cũng cần được tiếp tục hoàn thiện.

Vấn đề không phải là phủ nhận giá trị của mô hình, càng không phải là đặt lại câu hỏi về sự tồn tại của đại học quốc gia hay đại học vùng. Điều cần thiết hơn là làm rõ vai trò của từng cấp trong một mô hình đại học hai cấp, để mỗi cấp thực hiện đúng chức năng, sử dụng hiệu quả nguồn lực và phát huy tốt nhất quyền tự chủ gắn với trách nhiệm giải trình.

Câu hỏi có tính nền tảng cần được đặt ra là: Đại học quốc gia, đại học vùng nên làm gì và trường thành viên nên làm gì?

Nếu ranh giới này không được xác định rõ, mô hình hai cấp rất dễ phát sinh nhiều tầng quản lí, chồng lấn chức năng, phân tán nguồn lực và làm giảm tính chủ động của các trường thành viên.

Ngược lại, nếu phân định được rõ chức năng, mô hình đại học quốc gia, đại học vùng sẽ có điều kiện phát huy đúng giá trị đặc thù: tạo ra sức mạnh mà không một trường đại học đơn lẻ nào có thể tạo ra một mình.

bkdn.jpg
Trường Đại học Bách khoa (Đại học Đà Nẵng) - Ảnh: website nhà trường

Đại học quốc gia, đại học vùng cần được nhìn nhận như một thiết chế điều phối

Theo Luật Giáo dục đại học số 125/2025/QH15, đại học quốc gia và đại học vùng vẫn được xác định là cơ sở giáo dục đại học; đồng thời các trường đại học thành viên cũng là cơ sở giáo dục đại học.

Điều đó cho thấy tính chất đặc thù của mô hình này: nhiều cơ sở giáo dục đại học được tổ chức trong một chỉnh thể để tạo ra sức mạnh tổng hợp.

Vì vậy, vấn đề không nằm ở việc xác định đại học quốc gia hay đại học vùng có phải là cơ sở giáo dục đại học hay không, mà là phân định chức năng giữa đại học và các trường thành viên trong cùng một hệ thống.

Một đại học quốc gia hay đại học vùng không nên được hiểu đơn giản là “một trường đại học lớn hơn”, trong đó các trường thành viên chỉ là những đơn vị trực thuộc thực hiện nhiệm vụ theo sự điều hành của cấp trên. Nếu tiếp cận như vậy, mô hình hai cấp rất dễ trở thành mô hình quản lí hành chính nhiều tầng. Khi đó, một công việc có thể phải trải qua nhiều cấp quyết định; một nguồn lực có thể phải qua nhiều tầng phân bổ; trong khi trách nhiệm cuối cùng lại khó xác định.

Trong khi đó, giá trị cốt lõi của đại học quốc gia và đại học vùng phải nằm ở những việc mà từng trường riêng lẻ khó có thể thực hiện hiệu quả.

Đó là hoạch định chiến lược chung; điều phối và huy động nguồn lực; đầu tư những nhiệm vụ lớn; phát triển hạ tầng nghiên cứu và đào tạo dùng chung; tổ chức các chương trình liên ngành, liên trường; thúc đẩy khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo; phát triển hợp tác quốc tế; kết nối với Nhà nước, địa phương, doanh nghiệp và cộng đồng.

Nói cách khác, Đại học cần mạnh về chiến lược, điều phối và kiến tạo; trường thành viên cần mạnh về học thuật, đào tạo, nghiên cứu và chịu trách nhiệm về kết quả.

Đây là sự phân công cần được thể hiện rõ hơn trong thiết kế tổ chức và cơ chế vận hành.

Không nên biến quyền điều phối thành quyền quản lí vi mô

Trong quản trị đại học hiện đại, một nguyên tắc quan trọng là quyền hạn phải đi cùng trách nhiệm, nguồn lực phải đi cùng nhiệm vụ và quyền tự chủ phải đi cùng trách nhiệm giải trình.

Nếu trường thành viên là một cơ sở giáo dục đại học thì trường cần có đủ không gian tự chủ để thực hiện sứ mạng của mình, đồng thời chịu trách nhiệm về chất lượng đào tạo, nghiên cứu, người học và hiệu quả sử dụng nguồn lực.

Đại học quốc gia, đại học vùng không nên can thiệp vào tất cả những công việc mà trường thành viên có đủ năng lực và điều kiện để tự quyết định.

Vai trò của Đại học nên là tạo ra giá trị gia tăng cho toàn hệ thống.

Một trường có thể tự tổ chức một chương trình đào tạo; nhưng nếu chương trình cần sự tham gia của nhiều lĩnh vực, nhiều trường thì Đại học có thể điều phối.

Một trường có thể đầu tư phòng thí nghiệm; nhưng Đại học có thể đầu tư những phòng thí nghiệm dùng chung, quy mô lớn, phục vụ nhiều trường và nhiều nhóm nghiên cứu.

Một trường có thể chủ động hợp tác quốc tế trong lĩnh vực của mình; nhưng Đại học có thể xây dựng những mạng lưới hợp tác chiến lược ở tầm quốc gia và quốc tế.

Một trường có thể xây dựng hệ thống dữ liệu phục vụ hoạt động của mình; nhưng Đại học cần kiến tạo hạ tầng dữ liệu liên thông và những nền tảng số dùng chung.

Như vậy, Đại học không làm thay trường thành viên; Đại học làm cho các trường thành viên có thể làm được những việc lớn hơn. Đây chính là ý nghĩa quan trọng của mô hình đại học hai cấp.

Nguồn lực phải đi cùng quyền tự chủ và trách nhiệm

Một vấn đề cần được đặc biệt quan tâm trong mô hình hai cấp là quan hệ về nguồn lực giữa Đại học và các trường thành viên.

Nếu Đại học được nhìn như một cấp quản lí trung gian, rất dễ hình thành tư duy: nguồn lực được tập trung ở cấp Đại học, sau đó phân bổ xuống các trường.

Tuy nhiên, trong điều kiện tự chủ đại học, cần tiếp cận vấn đề này theo hướng khác.

Trường thành viên là một cơ sở giáo dục đại học, có sứ mạng, đội ngũ, người học, chương trình đào tạo, hoạt động khoa học và các nguồn lực được giao. Vì vậy, cần phân định rõ nguồn lực nào thuộc trách nhiệm quản lí của trường, nguồn lực nào là nguồn lực dùng chung và nguồn lực nào dành cho những nhiệm vụ chiến lược của toàn Đại học.

Đại học cần có năng lực huy động và điều phối nguồn lực để thực hiện các nhiệm vụ chung. Nhưng điều phối không đồng nghĩa với việc biến toàn bộ nguồn thu do các trường tạo ra thành nguồn lực của cấp Đại học để phân bổ lại theo cơ chế hành chính.

Cần hướng tới một cơ chế trong đó trường thành viên được chủ động sử dụng nguồn lực để thực hiện sứ mạng của mình, đồng thời có trách nhiệm đóng góp cho những nhiệm vụ chung theo các nguyên tắc minh bạch, công bằng và được thống nhất từ trước.

Đại học, về phần mình, cần sử dụng các nguồn lực chung để đầu tư cho những lĩnh vực có khả năng tạo ra giá trị gia tăng cho toàn hệ thống.

Từ đó, quan hệ giữa Đại học và trường thành viên cần chuyển dần từ tư duy “thu – phân bổ” sang tư duy “đầu tư – tạo giá trị – cùng phát triển”.

Một trường thành viên phát triển tốt sẽ làm tăng sức mạnh của Đại học; một Đại học có chiến lược đầu tư đúng sẽ tạo thêm không gian phát triển cho các trường. Đó phải là quan hệ cộng hưởng, không phải quan hệ phân phối đơn thuần.

bktphcm.jpg
Ảnh: nguồn Trường Đại học Bách khoa (Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh)

Phân hiệu nên được nhìn nhận đúng bản chất là một campus

Một vấn đề khác cần được quan tâm là tổ chức và vận hành phân hiệu.

Về bản chất, phân hiệu là một bộ phận thuộc cơ sở giáo dục đại học, không phải một trường đại học thành viên độc lập.

Vì vậy, cách tiếp cận phù hợp hơn là xem phân hiệu như một campus – một không gian hoạt động của trường tại một địa bàn khác.

Một campus có thể có quy mô lớn, có đội ngũ, cơ sở vật chất, các chương trình đào tạo và hoạt động phục vụ cộng đồng phù hợp với đặc điểm địa phương. Tuy nhiên, campus vẫn cần nằm trong một hệ thống quản trị thống nhất của trường.

Điều cần tăng cho phân hiệu là quyền chủ động trong vận hành, chứ không nhất thiết phải tạo thêm một tầng tổ chức tương tự trường thành viên.

Một campus hiện đại cần thống nhất về chuẩn học thuật, chương trình, bảo đảm chất lượng, dữ liệu và thương hiệu; đồng thời được phân cấp, phân quyền phù hợp để đáp ứng yêu cầu phát triển của địa phương.

Như vậy, phân hiệu có thể trở thành một không gian phát triển mới của trường mà không làm phát sinh một cấu trúc quản trị cồng kềnh.

Giáo dục thường xuyên, đào tạo từ xa: phương thức có thể khác, trách nhiệm học thuật phải rõ

Sự phát triển của giáo dục thường xuyên, đào tạo từ xa và đào tạo kết hợp cũng đặt ra yêu cầu nhìn lại vai trò của các trung tâm trong mô hình đại học hai cấp.

Cần phân biệt rõ giữa đơn vị cung cấp dịch vụ, hỗ trợ và tổ chức đào tạo với chủ thể chịu trách nhiệm học thuật về chương trình đào tạo.

Một trung tâm có thể đảm nhiệm việc tổ chức lớp học, quản lí nền tảng, hỗ trợ người học, phát triển học liệu, cung cấp dịch vụ công nghệ và nhiều hoạt động khác.

Nhưng đối với một chương trình đào tạo cụ thể, cần xác định rõ trường nào chịu trách nhiệm về chương trình, đội ngũ, chất lượng, đánh giá kết quả học tập và văn bằng theo quy định pháp luật.

Phương thức đào tạo có thể là trực tiếp, từ xa, trực tuyến hoặc kết hợp.

Nhưng phương thức đào tạo thay đổi không có nghĩa là chủ thể chịu trách nhiệm học thuật bị phân tán.

Đây cũng là nguyên tắc quan trọng để bảo đảm quyền lợi của người học và sự minh bạch về trách nhiệm của cơ sở giáo dục đại học.

Viện nghiên cứu, khoa trực thuộc Đại học: cần phân loại theo chức năng

Đối với các viện nghiên cứu và khoa trực thuộc Đại học, cần có cách tiếp cận phân loại, thay vì cơ học hóa.

Một viện nghiên cứu thực sự có tính liên ngành, có quy mô lớn, thực hiện các nhiệm vụ khoa học và công nghệ chiến lược mà một trường thành viên khó tổ chức hiệu quả thì việc đặt ở cấp Đại học có thể là cần thiết.

Nhưng nếu một viện chủ yếu thực hiện chức năng đào tạo một lĩnh vực chuyên môn, quản lí chương trình, người học và đội ngũ thì cần xem xét việc đưa về trường thành viên phù hợp.

Tương tự, với các khoa trực thuộc Đại học, cần đặt ra câu hỏi Khoa này đang làm điều gì mà một khoa của trường thành viên không thể làm tốt hơn?

Nếu đó là chức năng chuyên môn thông thường thì nên thuộc về trường thành viên.

Nếu đó là một lĩnh vực liên ngành, liên trường hoặc một nhiệm vụ đặc thù cấp Đại học thì việc tổ chức ở cấp Đại học có thể có cơ sở.

Nguyên tắc nên là cái gì thuộc chức năng cốt lõi của trường thì trả về trường; cái gì thực sự liên ngành, liên trường và mang tính chiến lược thì tổ chức ở cấp Đại học.

Tinh gọn tổ chức vì thế không phải là giảm đầu mối một cách cơ học, mà là đặt mỗi chức năng vào đúng nơi có khả năng thực hiện tốt nhất.

Tóm lại, đại học quốc gia và đại học vùng là những thiết chế đặc thù, có vai trò quan trọng trong hệ thống giáo dục đại học Việt Nam. Giá trị của mô hình này không nằm ở việc tập hợp càng nhiều đơn vị càng tốt, mà ở khả năng tạo ra sức mạnh cộng hưởng giữa các trường, các ngành, các lĩnh vực và các nguồn lực. Vì vậy, yêu cầu của giai đoạn mới không phải là làm cho đại học quốc gia, đại học vùng “nhỏ đi”, mà là làm cho Đại học đúng vai hơn.

Thanh Sơn