Trùng lặp bộ máy hành chính, ngành đào tạo bên trong đại học vùng/quốc gia gây phân tán nguồn lực

25/08/2026 06:24
Khánh Hòa
Theo dõi trên Google News
0:00 / 0:00
0:00

GDVN - Theo một số chuyên gia giáo dục, đại biểu quốc hội, tình trạng trùng lặp bộ máy hành chính, ngành đào tạo giữa các trường thành viên thuộc đại học quốc gia/vùng đang làm phân tán nguồn lực. 

Theo khảo sát của Tạp chí điện tử Giáo dục tại một số đại học đa lĩnh vực cho thấy, có tình trạng các khoa, ngành đào tạo trùng nhau giữa các trường thành viên của đại học quốc gia/vùng. Trong bối cảnh Bộ Chính trị đặt mục tiêu giảm ít nhất 20% đầu mối các cơ sở giáo dục đại học công lập trước ngày 1/4/2027, yêu cầu sắp xếp, tổ chức lại các cơ sở giáo dục đại học theo hướng tinh gọn, tập trung nguồn lực càng trở nên rõ nét.

Theo chuyên gia giáo dục, đại biểu quốc hội, bên cạnh việc sắp xếp các cơ sở giáo dục đại học, cơ quan quản lý nhà nước cần rà soát, tái cấu trúc bên trong các đại học quốc gia, đại học vùng theo hướng nên chuyển đơn vị đào tạo trong đại học về các trường thành viên. Những đơn vị có ngành đào tạo, khoa và chức năng tương đồng cần được phân định lại vai trò, hạn chế trùng chéo trong đào tạo, qua đó tránh đầu tư dàn trải, lãng phí nguồn lực và phát huy sức mạnh chung của toàn hệ thống.

Cần rà soát tổng thể để tránh "mạnh ai nấy làm"

Trao đổi với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, Đại biểu Quốc hội, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Văn Ngọc - Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Lâm Đồng cho rằng, trước hết, cần nhìn nhận tình trạng trùng lặp bộ máy hành chính, ngành đào tạo/khoa giữa các trường đại học thành viên thuộc các đại học đa lĩnh vực (đại học quốc gia, đại học vùng) là có thật và đang ở mức đáng lo ngại.

Theo thống kê của Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam vào tháng 8/2026 cho thấy, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh có 30 ngành được từ hai trường thành viên trở lên cùng đào tạo; riêng ngành Công nghệ thông tin và Khoa học dữ liệu có tới 5 trường cùng mở. Tại Đại học Huế, 5 khoa trùng tên hoàn toàn giữa Trường Đại học Sư phạm và Trường Đại học Khoa học (gồm Ngữ văn, Toán, Lịch sử, Hóa học, Sinh học), cùng 6 ngành được nhiều đơn vị tham gia đào tạo.

Tất nhiên không đánh đồng "trùng tên" với "trùng lặp". Chẳng hạn, Sư phạm Toán học và Toán học là hai chương trình khác nhau về triết lý đào tạo, hệ sinh thái nghiên cứu và thị trường việc làm; sự đa dạng đó là bình thường và cần thiết. Vấn đề thực sự nằm ở việc trùng chức năng, trùng sứ mạng và trùng cả bộ máy. Ví dụ một đại học đã có ban đào tạo nhưng 10 trường thành viên lại có thêm 10 phòng đào tạo nữa.

Sự trùng lặp hiện nay chủ yếu là hệ quả của thể chế hơn là yêu cầu học thuật. Quy định về mở ngành yêu cầu mỗi ngành phải có giảng viên cơ hữu chủ trì, trong khi Thông tư số 01/2024/TT-BGDĐT của Bộ Giáo dục và Đào tạo về chuẩn cơ sở giáo dục đại học xác định giảng viên toàn thời gian là người không ký hợp đồng từ ba tháng trở lên với đơn vị khác. Bên cạnh đó, mỗi trường thành viên là một pháp nhân độc lập, tự chủ về nguồn thu, nên mỗi trường phải tự xây dựng đội ngũ giảng viên đáp ứng các ngành đào tạo của mình.

Vì vậy, việc các trường cùng đào tạo những ngành tương tự có thể là lựa chọn hợp lý ở cấp từng đơn vị, nhưng lại tạo ra sự lãng phí khi nhìn ở quy mô toàn hệ thống. Nguồn lực bị phân tán, quy mô lớp học nhỏ, chi phí đào tạo trên mỗi sinh viên tăng, các trường cạnh tranh tuyển sinh ngay trong nội bộ và khó tập trung nguồn lực để hình thành những nhóm nghiên cứu đủ mạnh, có khả năng tạo ra kết quả khoa học lớn.

goal9581-1-1.jpg
Đại biểu Quốc hội, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Văn Ngọc - Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Lâm Đồng, Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Đà Lạt. Ảnh: NVCC

Theo Đại biểu Quốc hội Nguyễn Văn Ngọc, để đại học vùng, đại học quốc gia thực sự phát huy hiệu quả, nâng cao chất lượng đào tạo, tạo ra nhiều kết quả nghiên cứu khoa học, cơ quan quản lý nhà nước cần bắt đầu rà soát từ sứ mạng của từng đại học, trong đó, mỗi trường thành viên phải có một thế mạnh đủ rõ và một hệ sinh thái riêng. Ví dụ, Trường Sư phạm dẫn dắt khoa học giáo dục và đào tạo giáo viên; Trường Khoa học giữ vai trò nghiên cứu cơ bản; Trường Kỹ thuật đi sâu vào đào tạo tài năng công nghệ...

Tiếp đó, cần tổ chức lại theo những lĩnh vực rộng, thay vì chia nhỏ theo từng đơn vị hẹp. Các bộ môn, khoa có chuyên môn tương đồng nhưng đang phân tán ở nhiều trường thành viên có thể được hợp nhất thành những khoa dùng chung, qua đó tập trung đội ngũ và nguồn lực. Luật Giáo dục đại học năm 2025 đã mở đường cho hướng đi này khi quy định trường thuộc đại học không có tư cách pháp nhân mà được phân cấp quản lý. Đây là cơ sở để từng bước chuyển từ mô hình "liên hiệp các trường đại học" sang "đại học đa lĩnh vực thực chất".

Bên cạnh đó, Thông tư số 58/2026/TT-BGDĐT ngày 7/7/2026 của Bộ Giáo dục và Đào tạo hướng dẫn về quy chế tổ chức và hoạt động của cơ sở giáo dục đại học yêu cầu các đại học quốc gia ban hành quy chế tổ chức và hoạt động mới trước ngày 15/9/2026, đại học vùng trước ngày 1/11/2026, các cơ sở còn lại trước ngày 31/12/2026. Đây là thời điểm thuận lợi nhất để đại học quốc gia/vùng đưa cơ chế điều phối nguồn lực chung về nhân lực, phòng thí nghiệm, học phần vào quy chế nội bộ, thay vì chờ thêm những thay đổi về luật. Nếu không tận dụng thời điểm này, quá trình tổ chức lại có thể tiếp tục bị trì hoãn.

Đặc biệt, quá trình sắp xếp, tổ chức lại các cơ sở giáo dục phải tránh sáp nhập cơ học. Kế hoạch số 06-KH/TW ngày 28/7/2026 của Bộ Chính trị đặt mục tiêu giảm tối thiểu 20% đầu mối cơ sở giáo dục đại học công lập trước ngày 1/4/2027. Đây là việc phải làm để các cơ sở giáo dục đại học thực sự tinh, gọn, mạnh, hiệu năng, hiệu quả và tạo đà đột phá thực sự.

Tuy vậy, thước đo thành công không chỉ nằm ở số đầu mối giảm được, mà ở chi phí đào tạo trên mỗi sinh viên, quy mô lớp học, số nhóm nghiên cứu mạnh liên ngành, số công bố khoa học và tỷ lệ việc làm của người học. Quan trọng hơn, sắp xếp phải đi cùng đầu tư tập trung, trong đó Nghị quyết số 71-NQ/TW của Bộ Chính trị đã xác định chi ngân sách nhà nước cho giáo dục đại học ít nhất 3% tổng chi ngân sách nhà nước. Nếu chỉ sắp xếp, cắt giảm đầu mối mà không tăng hiệu quả đầu tư, quá trình này có nguy cơ chỉ dừng ở việc phân bổ lại những nguồn lực vốn đã hạn chế.

Cùng bàn về vấn đề này, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đỗ Văn Dũng - nguyên Hiệu trưởng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh (nay là Trường Đại học Công nghệ Kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh) nhìn nhận, tình trạng trùng ngành đào tạo/khoa giữa các trường thành viên trong đại học quốc gia, đại học vùng là vấn đề mang tính hệ thống. Nguyên nhân chính nằm ở mô hình tổ chức, bởi các đại học này gần như là liên hiệp các trường chuyên ngành hơn là đại học đa lĩnh vực tích hợp. Mỗi trường thành viên vẫn giữ tính độc lập cao về chương trình, tuyển sinh và thương hiệu, dẫn đến dễ phát sinh cạnh tranh nội bộ và đầu tư dàn trải.

Hệ quả là nguồn lực về giảng viên, phòng thí nghiệm và chương trình đào tạo bị phân tán, gây lãng phí, trong khi các thế mạnh liên ngành chưa được phát huy đầy đủ. Sự trùng lặp cũng khiến người học và xã hội bị phân tán thông tin về chất lượng đào tạo giữa các đơn vị cùng lĩnh vực. Ở mức độ vừa phải, sự đa dạng nội bộ có thể tạo cạnh tranh lành mạnh. Tuy nhiên, khi trùng lặp phổ biến và thiếu cơ chế điều phối đủ mạnh từ cấp đại học, mặt tiêu cực sẽ có xu hướng lấn át lợi ích của việc duy trì các đơn vị đào tạo riêng biệt.

thay-dung.jpg
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đỗ Văn Dũng - nguyên Hiệu trưởng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh (nay là Trường Đại học Công nghệ Kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh). Ảnh: NVCC

Để đại học quốc gia/vùng thực sự hoạt động hiệu quả, thầy Dũng nhấn mạnh, cơ quan quản lý nhà nước cần quyết liệt tái cấu trúc bên trong theo hướng tích hợp thực chất, thay vì duy trì mô hình "liên hiệp lỏng" các trường chuyên ngành. Về nguyên tắc, cần giảm tối đa trùng lặp ngành/khoa; phân định rõ thế mạnh cốt lõi của từng đơn vị; tăng cường liên ngành và chia sẻ nguồn lực; tăng quyền điều phối thực chất của cấp đại học.

Về giải pháp, trước hết cần rà soát lại các ngành đào tạo, giữ ngành thế mạnh, sáp nhập hoặc chuyển giao ngành trùng lặp về một đơn vị chủ trì.

Tiếp đó, tăng cường vai trò điều phối của cấp đại học bằng việc mở rộng thẩm quyền trong quy hoạch ngành, phân bổ chỉ tiêu, đầu tư và đánh giá hiệu quả. Quy hoạch ngành sẽ được ban hành bắt buộc, công khai và thực thi nghiêm túc, vận hành theo cơ chế "phân công thế mạnh - chia sẻ nguồn lực".

Đồng thời, thúc đẩy nghiên cứu và đào tạo liên ngành, hình thành nhóm nghiên cứu mạnh liên trường thành viên; ưu tiên chương trình liên ngành, liên trường; đánh giá đơn vị và cá nhân dựa trên kết quả đầu ra (công bố, chuyển giao, chất lượng sinh viên) thay vì quy mô. Mục tiêu là chuyển từ "liên hiệp các trường chuyên ngành" sang "đại học tích hợp có phân công thế mạnh rõ ràng".

Cần xem xét lại cách tổ chức và phân bổ đội ngũ giảng viên giữa các trường thành viên

Để sử dụng hiệu quả nguồn lực chung trong các đại học đa lĩnh vực, nhiều ý kiến cho rằng cần xem xét lại cách tổ chức và phân bổ đội ngũ giảng viên giữa các trường thành viên.

Về vấn đề này, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đỗ Văn Dũng cho rằng, nên xây dựng cơ chế sử dụng chung đội ngũ giảng viên xuyên khoa, xuyên trường trong cùng một đại học. Đại học quốc gia/vùng được kỳ vọng tạo ra sức mạnh liên ngành, nếu giảng viên bị "khóa" cứng trong một khoa hoặc một trường thành viên sẽ rất khó hình thành nhóm nghiên cứu và chương trình đào tạo liên ngành thực chất. Cơ chế sử dụng chung giúp phá vỡ rào cản hành chính, tận dụng tối đa chuyên môn của đội ngũ.

Đội ngũ giảng viên giỏi, đặc biệt ở lĩnh vực hẹp hoặc mới như AI, dữ liệu, năng lượng… có thể tham gia giảng dạy và nghiên cứu ở nhiều đơn vị, tránh tình trạng nơi thừa, nơi thiếu. Điều này giảm lãng phí và tăng chất lượng đào tạo - nghiên cứu chung của cả đại học.

Đặc biệt, nhiều đề tài lớn, công bố quốc tế và sản phẩm khoa học công nghệ hiện nay đòi hỏi sự phối hợp đa ngành. Cơ chế giảng viên xuyên khoa, xuyên trường tạo điều kiện hình thành nhóm nghiên cứu mạnh, tăng số lượng và chất lượng công bố, đồng thời gắn kết các đơn vị thành viên chặt chẽ hơn.

Khi sử dụng cơ chế này còn giúp tăng tính linh hoạt và hấp dẫn với nhân tài. Giảng viên có cơ hội mở rộng hợp tác, tham gia nhiều hướng nghiên cứu và giảng dạy, từ đó tăng động lực và khả năng phát triển nghề nghiệp. Điều này giúp đại học thu hút và giữ chân người tài tốt hơn.

Cơ chế sử dụng chung giảng viên xuyên khoa, xuyên trường là hướng đi đúng, cần thiết để đại học quốc gia/vùng phát huy đúng mô hình đa lĩnh vực. Nếu thiết kế tốt sẽ giúp tăng hiệu quả nguồn lực, thúc đẩy liên ngành, nâng cao chất lượng đào tạo lẫn nghiên cứu.

dh-da-nang.jpg
Ảnh minh họa. website Đại học Đà Nẵng.

Đồng quan điểm, Đại biểu Quốc hội Nguyễn Văn Ngọc cho rằng, nên xây dựng cơ chế sử dụng chung đội ngũ giảng viên xuyên khoa, xuyên trường trong cùng một đại học, thay vì giới hạn giảng viên trong phạm vi từng khoa hoặc từng trường, qua đó tận dụng tốt hơn nguồn nhân lực và hạn chế tình trạng đầu tư trùng lặp. Xa hơn, cần nghiên cứu cơ chế chia sẻ, sử dụng chung đội ngũ giữa các cơ sở giáo dục đại học trên cả nước. Sinh viên ở Đà Lạt, Buôn Ma Thuột, Cần Thơ hay bất cứ tỉnh/thành phố nào đều xứng đáng được tiếp cận với những chuyên gia giỏi nhất của đất nước.

Quy chế tổ chức và hoạt động của đại học quốc gia ban hành năm 2014 đã quy định giảng viên và nghiên cứu viên cơ hữu là nguồn lực chung của toàn đại học quốc gia. Tuy nhiên, sau hơn mười năm, quy định chưa đạt được như kỳ vọng. Nay Luật Giáo dục đại học năm 2025 giao đại học vùng sứ mạng "tập hợp nguồn lực", đồng thời cho phép các cơ sở liên kết phát triển chương trình, nền tảng số dùng chung và công nhận kết quả học tập tích lũy lẫn nhau mà không hình thành pháp nhân mới. Vì vậy, để cơ chế này đi vào thực tế, cần đảm bảo năm điều kiện:

Thứ nhất là sửa chuẩn cơ sở giáo dục đại học theo hướng cho phép tính quy đổi đối với giảng viên dùng chung theo phần, với tổng quy đổi của một giảng viên trong toàn hệ thống không vượt quá 1.

Thứ hai, cần công nhận chéo giờ chuẩn. Giờ giảng mà giảng viên thực hiện tại đơn vị khác phải được tính vào khối lượng thực hiện nhiệm vụ chuyên môn, thay vì bị xem như hoạt động giảng dạy bên ngoài. Tiền lệ đã có khi trưởng nhóm nghiên cứu mạnh được giảm 50% định mức giờ chuẩn, cho thấy định mức giờ chuẩn hoàn toàn có thể được điều chỉnh theo vai trò và nhiệm vụ chuyên môn.

Thứ ba, xây dựng cơ chế tài chính minh bạch giữa các đơn vị dự toán, trong đó quy định rõ đơn vị nào chi trả tiền lương, cơ chế hoàn trả chi phí, nguyên tắc chia sẻ nguồn thu và sử dụng không gian làm việc.

Thứ tư, mở rộng đối tượng giảng viên đồng cơ hữu. Hiện nay, một tiến sĩ công tác tại viện nghiên cứu có thể trở thành giảng viên đồng cơ hữu của trường đại học, trong khi một phó giáo sư của trường này lại không thể đồng cơ hữu tại trường khác trong cùng một đại học. Sự bất cập này cần được rà soát, khắc phục để tạo cơ sở pháp lý cho việc chia sẻ và sử dụng hiệu quả đội ngũ giảng viên giữa các đơn vị.

Thứ năm, cần có cơ chế kiểm soát chất lượng và phòng ngừa rủi ro. Mỗi giảng viên phải có một đơn vị chủ quản duy nhất chịu trách nhiệm đánh giá và phát triển nghề nghiệp, tránh tình trạng "hai nhà nhưng không có tổ ấm"; phải có trần khối lượng công việc để tránh quá tải; và tuyệt đối không để cơ chế này bị lợi dụng thành việc mượn tên giảng viên nhằm hợp thức hóa điều kiện mở ngành.

Khánh Hòa