Theo dự thảo Nghị định quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Giáo dục đại học, để được công nhận là đại học, cơ sở giáo dục cần đáp ứng hàng loạt tiêu chí về tổ chức và cơ cấu ngành đào tạo, quy mô đào tạo, đội ngũ giảng viên, hoạt động nghiên cứu và đổi mới sáng tạo...
Về điều kiện nghiên cứu khoa học và đổi mới sáng tạo, một trong các yêu cầu là cơ sở giáo dục đại học cần có tỷ trọng thu từ hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đạt tối thiểu 20% tổng thu của cơ sở giáo dục.
Theo đại diện một số đơn vị, hiện chuẩn cơ sở giáo dục đại học yêu cầu mức 5% đã tương đối khó với nhiều trường, mức 20% để chuyển từ trường đại học lên đại học thực sự là một bài toán lớn cần có thêm chính sách hỗ trợ đi kèm.
Chuyển đại học từ mô hình phụ thuộc chủ yếu vào học phí sang mô hình gắn đào tạo với nghiên cứu
Trao đổi với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Xuân Phương - Hiệu trưởng Trường Đại học Giao thông vận tải Thành phố Hồ Chí Minh cho rằng, việc chuẩn hóa tiêu chí đối với mô hình “đại học” góp phần khắc phục tình trạng phát triển theo danh xưng, đồng thời tạo cơ sở pháp lý cho việc phát triển mạng lưới giáo dục đại học gắn với chiến lược tổng thể quốc gia, phù hợp với các định hướng tại Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia và Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo.
Theo thầy Phương, việc dự thảo đặt ra yêu cầu tỷ trọng thu từ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đạt tối thiểu 20% tổng thu là yêu cầu cao đối với các đại học đã được phê duyệt và sẽ là thách thức lớn cho các trường phấn đấu trở thành đại học.
Hiện nay, theo Thông tư 01/2024/TT-BGDĐT ngày 5/12/2024 của Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Chuẩn cơ sở giáo dục đại học cũng đã có quy định: “tỷ trọng thu từ các hoạt động khoa học và công nghệ trên tổng thu của cơ sở giáo dục đại học có đào tạo tiến sĩ (có tính trọng số theo lĩnh vực), tính trung bình trong 3 năm gần nhất không thấp hơn 5%”.
Nếu muốn đạt được mục tiêu này, ngoài sự nỗ lực nội tại của các cơ sở giáo dục đại học, thì nhà nước cần đẩy mạnh đầu tư, có các chính sách hỗ trợ đẩy mạnh hoạt động hợp tác 3 nhà (nhà nước – nhà trường – doanh nghiệp) để các công trình khoa học, đổi mới sáng tạo của cơ sở giáo dục đại học được ứng dụng vào doanh nghiệp, giúp tăng nguồn thu từ hoạt động nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ lên so với tổng thu hoạt động.
Còn theo lãnh đạo một trường đại học ở phía Bắc, dự thảo thể hiện rõ quyết tâm của Bộ trong việc tiếp tục nâng chuẩn hệ thống giáo dục đại học, đặc biệt là đối với mô hình đại học, nơi được kỳ vọng giữ vai trò nòng cốt về đào tạo nhân lực trình độ cao và nghiên cứu khoa học.
Tuy nhiên, dự thảo cần cân nhắc tới định hướng chiến lược phát triển giáo dục đại học, quy hoạch mạng lưới các cơ sở giáo dục đại học và đặc biệt là dữ liệu, thực trạng các chỉ số của toàn hệ thống giáo dục đại học Việt Nam. Đồng thời, cần thiết kế lộ trình thực hiện phù hợp, có cơ chế đánh giá theo giai đoạn, tạo điều kiện để các trường từng bước đáp ứng yêu cầu.
Trong đó, tiêu chí tỷ trọng thu từ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đạt tối thiểu 20% tổng thu là một điểm rất tích cực trong dự thảo, cho thấy định hướng chuyển mạnh từ “đào tạo thuần túy” sang mô hình đại học gắn với nghiên cứu, chuyển giao công nghệ và phục vụ phát triển kinh tế – xã hội.
Song, để đạt được điều kiện này nhiều đơn vị sẽ rất khó khăn, nhất là các trường không phải đặt tại thành phố lớn - nơi hệ sinh thái nghiên cứu và doanh nghiệp chưa thật sự phát triển. Do đó cần có thêm thời gian và chính sách khuyến khích để hình thành các hoạt động khoa học – công nghệ có khả năng tạo nguồn thu ổn định cho các cơ sở giáo dục đại học.
Cùng chia sẻ về nội dung này, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Vũ Quỳnh - Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Lạc Hồng cho rằng, tiêu chí yêu cầu tỷ trọng thu từ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đạt tối thiểu 20% tổng thu là định hướng đúng đắn nhằm chuyển đại học từ mô hình phụ thuộc chủ yếu vào học phí sang mô hình gắn đào tạo với nghiên cứu, chuyển giao công nghệ và phục vụ xã hội. Về mặt chiến lược, đây là mục tiêu hợp lý, phù hợp với xu hướng phát triển đại học nghiên cứu và tự chủ tài chính.
Tuy nhiên, trong bối cảnh các cơ sở giáo dục đại học có nguồn thu từ nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ còn hạn chế, chủ yếu do thiếu đội ngũ nghiên cứu mạnh, hạ tầng nghiên cứu, cơ chế thương mại hóa kết quả nghiên cứu và liên kết hiệu quả với doanh nghiệp, thì mức tỷ trọng thu từ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đạt tối thiểu 20% tổng thu là tương đối cao so với thực tế của đa số các trường đại học tại Việt Nam.
Vì vậy, tiêu chí này khó đạt được trong ngắn hạn nhưng hoàn toàn khả thi trong trung và dài hạn nếu đi kèm lộ trình phù hợp, cơ chế tài chính linh hoạt và chính sách hỗ trợ phát triển hệ sinh thái nghiên cứu, đổi mới sáng tạo trong các trường đại học.
Tăng tỷ lệ giảng viên có trình độ tiến sĩ là cần thiết, nhưng cần có lộ trình thực hiện phù hợp
Đáng chú ý, dự thảo cũng quy định để được công nhận là đại học, cơ sở giáo dục cần có đội ngũ giảng viên cơ hữu có trình độ tiến sĩ đạt tối thiểu 60%.
Theo thầy Nguyễn Xuân Phương, tiêu chí này phù hợp với thực tiễn sự phát triển về đội ngũ giảng dạy hiện nay của các cơ sở giáo dục đại học. Nhiều trường, đặc biệt là các trường định hướng nghiên cứu và tại những đô thị, vùng kinh tế trọng điểm, đã tiệm cận hoặc gần đạt tỷ lệ này.
Bên cạnh đó, khả năng đào tạo bổ sung và thu hút giảng viên trình độ tiến sĩ là khả thi trong bối cảnh các chính sách phát triển đội ngũ, hợp tác quốc tế và thu hút nhân tài ngày càng được hoàn thiện.
Đặc biệt, quy định này có thể xem là động lực nâng chuẩn đội ngũ, nếu được triển khai theo lộ trình phù hợp.
Còn theo thầy Nguyễn Vũ Quỳnh, yêu cầu tối thiểu 60% giảng viên cơ hữu phải có trình độ tiến sĩ khi chuyển đổi từ trường đại học thành đại học, là một quy định có tính cấp thiết trong bối cảnh nâng cao chất lượng giáo dục đại học và hội nhập quốc tế. Quy định này thể hiện định hướng rõ ràng của nhà nước trong việc chuẩn hóa và nâng tầm hệ thống giáo dục đại học, thúc đẩy năng lực nghiên cứu khoa học, đào tạo sau đại học và chất lượng đội ngũ giảng dạy, qua đó góp phần khẳng định đúng vị thế của mô hình đại học so với trường đại học thông thường.
Nâng chuẩn công nhận "đại học": Cần chú trọng chất lượng đào tạo tiến sĩ thay vì tăng số lượng ngành
Tuy nhiên, xét về thực tiễn, tiêu chí 60% giảng viên cơ hữu có trình độ tiến sĩ hiện vẫn là thách thức đối với nhiều cơ sở giáo dục đại học, đặc biệt là các trường đang trong giai đoạn phát triển. Thực tế cho thấy tỷ lệ giảng viên có trình độ tiến sĩ ở nhiều trường hiện nay còn thấp hơn mức quy định, trong khi việc đào tạo, thu hút và giữ chân đội ngũ tiến sĩ phụ thuộc rất lớn vào điều kiện tài chính, chính sách đãi ngộ, môi trường nghiên cứu và mức độ tự chủ của từng cơ sở. Nếu áp dụng cứng nhắc, quy định này có thể tạo áp lực lớn và dẫn đến nguy cơ chạy theo chỉ tiêu hình thức, chưa phản ánh đầy đủ chất lượng thực chất.
Vì vậy, tiêu chí 60% giảng viên tiến sĩ là phù hợp về mặt định hướng chiến lược và mục tiêu dài hạn, nhưng để đảm bảo tính khả thi, cần có lộ trình thực hiện hợp lý, đi kèm các chính sách hỗ trợ về cơ chế tài chính, thu hút nhân lực trình độ cao và phân tầng áp dụng theo nhóm cơ sở giáo dục đại học, nhằm vừa nâng chuẩn chất lượng, vừa phù hợp với điều kiện thực tế của hệ thống hiện nay.
Thầy Quỳnh nhấn mạnh, với các tiêu chí chuyển từ trường đại học thành đại học, có thể kỳ vọng hệ thống giáo dục đại học sẽ có sự nâng cao rõ rệt về chất lượng đào tạo và nghiên cứu theo hướng thực chất và phân tầng rõ ràng hơn. Danh xưng “đại học” sẽ không còn mang tính hình thức mà gắn với năng lực học thuật, nghiên cứu khoa học, đổi mới sáng tạo và mức độ hội nhập quốc tế.
Hơn nữa, các tiêu chí về tỷ lệ giảng viên tiến sĩ, giảng viên quốc tế, quy mô đào tạo sau đại học và tỷ trọng thu từ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo sẽ buộc các cơ sở giáo dục đầu tư nghiêm túc vào đội ngũ, môi trường nghiên cứu và liên kết với doanh nghiệp, qua đó nâng cao chất lượng đào tạo, đặc biệt ở bậc sau đại học. Đồng thời, hệ thống sẽ hình thành sự phân tầng hợp lý, trong đó “đại học” đóng vai trò trung tâm nghiên cứu, đổi mới sáng tạo và đào tạo nhân lực trình độ cao, còn các trường đại học tập trung tốt hơn vào đào tạo nghề nghiệp và ứng dụng.
Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Lạc Hồng cũng bày tỏ, để các tiêu chí trong dự thảo vừa nâng cao chất lượng, vừa phù hợp với điều kiện hiện nay, cần có cách tiếp cận linh hoạt và đồng bộ hơn.
Trước hết, việc đánh giá không nên chỉ dựa vào một vài tỷ lệ cứng như số lượng tiến sĩ hay tỷ trọng thu từ khoa học công nghệ, mà cần kết hợp thêm các chỉ số phản ánh chất lượng thực chất như hiệu quả đào tạo, năng lực nghiên cứu, mức độ gắn kết với doanh nghiệp và đóng góp cho xã hội. Cách tiếp cận này sẽ tránh tình trạng chạy theo chỉ tiêu hình thức mà không nâng cao chất lượng thực tế.
Ngoài ra, các tiêu chí nâng chuẩn cần đi kèm với cơ chế hỗ trợ tương xứng từ phía nhà nước, đặc biệt là trong tuyển dụng, đãi ngộ nhân sự chất lượng cao, thu hút giảng viên quốc tế và triển khai các hoạt động nghiên cứu, chuyển giao công nghệ.
Cuối cùng, cần làm rõ cách xác định và tính toán các tiêu chí, nhất là nguồn thu từ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, để bảo đảm thống nhất trong thực hiện và tạo động lực khuyến khích các trường phát triển theo hướng nghiên cứu, hợp tác quốc tế và liên kết với doanh nghiệp một cách thực chất.
Còn theo lãnh đạo trường đại học ở phía Bắc, tiêu chí tối thiểu 60% giảng viên cơ hữu có trình độ tiến sĩ là mức cao trong giai đoạn hiện nay đối với mặt bằng chung của các trường đại học. Tuy nhiên, nếu tiến hành sáp nhập các trường đại học trên cơ sở tính toán kĩ lưỡng, có lộ trình, cùng đề án sáp nhập được xây dựng khoa học, hợp lý theo tinh thần của Nghị quyết số 71 thì bài toán về đội ngũ giảng viên đạt chuẩn có thể sớm đạt được điều kiện này.
Để làm rõ vai trò tiên phong của mô hình đại học trong hệ thống giáo dục, cần chú trọng tiêu chí về đào tạo cũng như nghiên cứu khoa học và đổi mới sáng tạo bởi đây là những lĩnh vực phản ánh trực tiếp chất lượng, uy tín và sức lan tỏa của đơn vị.
Bên cạnh đó, vị lãnh đạo này cũng đưa ra kiến nghị một số điểm nhằm hoàn thiện các tiêu chí trong dự thảo Nghị định theo hướng vừa nâng cao chuẩn chất lượng, vừa phù hợp với điều kiện chung của hệ thống giáo dục đại học hiện nay:
Thứ nhất, cần tăng cường đánh giá kết quả và hiệu quả hoạt động của các cơ sở giáo dục đại học, qua đó phản ánh đúng năng lực thực chất và mức độ đóng góp cho xã hội.
Thứ hai, nên xem xét phân nhóm các cơ sở giáo dục đại học theo sứ mệnh, lĩnh vực đào tạo và định hướng phát triển, đồng thời bảo đảm sự cân đối về vùng miền, gắn với yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội của địa phương và khu vực. Cách tiếp cận này sẽ giúp các tiêu chí trở nên linh hoạt hơn, tránh áp dụng một khuôn mẫu cứng nhắc cho những cơ sở có điều kiện và chức năng khác nhau.