CSGDĐH nói gì về đề xuất miễn học phí ngành nông, lâm, thủy sản?

23/08/2026 06:20
Đình Nam
Theo dõi trên Google News
0:00 / 0:00
0:00

GDVN - Theo đại diện một số cơ sở giáo dục đại học đào tạo các ngành nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản, chính sách miễn học phí sẽ có ý nghĩa tích cực trong việc giảm áp lực cho nhà trường trong tuyển sinh, góp phần thu hút nhiều người học hơn.

Nhiều năm qua, tình trạng khó tuyển sinh vẫn là vấn đề nan giải đối với các cơ sở giáo dục đại học đào tạo ngành nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản, dù cho đây là những ngành nghề xã hội vẫn thiếu nhân lực có trình độ cao.

Trong bối cảnh đó, đề xuất miễn học phí cho người học các ngành, nghề nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản tại Dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung Nghị định số 238/2025/NĐ-CP ngày 3/9/2025 của Chính phủ quy định về chính sách học phí, miễn, giảm, hỗ trợ học phí, hỗ trợ chi phí học tập và giá dịch vụ trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo đang nhận được sự quan tâm đặc biệt.

Quy mô người học thấp tạo gánh nặng về cả tài chính lẫn năng lực nghiên cứu cho cơ sở đào tạo

Trao đổi với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, Tiến sĩ Phan Thị Hồng Phúc - Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Nông Lâm (Đại học Thái Nguyên) cho biết, đối với các ngành nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản, chi phí đào tạo thực tế cao hơn đáng kể so với mức học phí mà người học đóng góp.

Theo cô Phúc, đây là đặc thù của nhóm ngành phải kết hợp giữa đào tạo lý thuyết với thực hành, thực tập và nghiên cứu. Các nhà trường không chỉ cần duy trì hệ thống phòng học mà còn phải đầu tư, vận hành phòng thí nghiệm, khu thực hành, trang trại thực nghiệm, nhà lưới, vườn ươm, ao nuôi, đồng thời thường xuyên bổ sung vật tư, giống cây trồng, vật nuôi và các thiết bị chuyên dụng phục vụ đào tạo, nghiên cứu khoa học.

Tại Trường Đại học Nông Lâm (Đại học Thái Nguyên), hoạt động thực hành, thực tập và trải nghiệm nghề nghiệp chiếm tỷ trọng lớn trong chương trình đào tạo. Vì vậy, khi quy mô tuyển sinh thấp kéo dài, áp lực đối với việc duy trì các điều kiện bảo đảm chất lượng ngày càng lớn.

Nhà trường vẫn phải thường xuyên bảo dưỡng, nâng cấp cơ sở vật chất, cập nhật trang thiết bị và công nghệ mới để đáp ứng yêu cầu đào tạo, trong khi nguồn thu từ học phí khó có thể bù đắp đầy đủ chi phí thực tế. Điều này đặt các cơ sở đào tạo trước bài toán vừa phải duy trì chất lượng, vừa phải bảo đảm nguồn lực để vận hành những hệ thống thực hành, thực nghiệm vốn có chi phí cao.

“Để phần nào tháo gỡ khó khăn, Trường Đại học Nông Lâm (Đại học Thái Nguyên) đã chủ động mở rộng hợp tác với doanh nghiệp, huy động nguồn lực xã hội hóa nhằm xây dựng các mô hình học tập, thực hành và trải nghiệm nghề nghiệp hiện đại cho sinh viên. Điển hình, Công ty Cổ phần Nông nghiệp BAF Việt Nam đã đầu tư, hỗ trợ nhà trường xây dựng một mô hình học tập hiện đại với tổng giá trị gần 10 tỷ đồng.

Thông qua mô hình này, sinh viên có thêm điều kiện tiếp cận công nghệ, quy trình sản xuất và môi trường nghề nghiệp sát với thực tiễn hoạt động của doanh nghiệp. Đây là hướng đi cần thiết, giúp các trường tăng cường nguồn lực và nâng cao tính thực tiễn của đào tạo”, Tiến sĩ Phan Thị Hồng Phúc bày tỏ.

653866528-34785173637740180-3099802779539961563-n.jpg
Tiến sĩ Phan Thị Hồng Phúc - Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Nông Lâm (Đại học Thái Nguyên). Ảnh: NVCC

Cũng theo cô Phúc, không chỉ đặt ra áp lực về cơ sở vật chất, tình trạng quy mô người học thấp kéo dài còn tác động trực tiếp đến đội ngũ giảng viên và năng lực nghiên cứu của các trường. Một ngành đào tạo có quá ít sinh viên sẽ khó hình thành môi trường học thuật đủ mạnh để giảng viên phát triển chuyên môn, xây dựng các nhóm nghiên cứu liên ngành cũng như thu hút nhân lực chất lượng cao.

Trong khi đó, yêu cầu phát triển nông nghiệp hiện đại đang ngày càng đặt ra nhu cầu về đội ngũ chuyên gia có năng lực trong những lĩnh vực mới như công nghệ sinh học, trí tuệ nhân tạo (AI), Internet vạn vật (IoT), hệ thống thông tin địa lý (GIS), viễn thám và tự động hóa. Việc duy trì đội ngũ nhân lực có chuyên môn sâu trong những lĩnh vực này vì thế không chỉ là yêu cầu của riêng các cơ sở đào tạo mà còn gắn với năng lực đổi mới và phát triển của toàn ngành.

“Cần nhìn nhận vấn đề này ở góc độ rộng hơn thay vì chỉ xem xét hiệu quả tài chính của từng ngành đào tạo. Những ngành có quy mô người học không lớn nhưng giữ vai trò quan trọng đối với an ninh lương thực, phát triển nông nghiệp sinh thái, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và thích ứng với biến đổi khí hậu cần được xem là những lĩnh vực có ý nghĩa chiến lược. Do đó, Nhà nước cần có cơ chế hỗ trợ ổn định, lâu dài thông qua đặt hàng đào tạo, đầu tư cơ sở vật chất và hỗ trợ hoạt động nghiên cứu khoa học.

Khi có cơ chế đầu tư phù hợp, các trường đại học mới có đủ điều kiện để duy trì đội ngũ, nâng cấp hệ thống thực hành, thực nghiệm và bảo đảm chất lượng đào tạo, đồng thời có thể đảm nhận tốt hơn vai trò nghiên cứu, đổi mới sáng tạo và chuyển giao công nghệ cho ngành nông nghiệp”, Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Nông Lâm (Đại học Thái Nguyên) chia sẻ.

Đồng quan điểm, Tiến sĩ Nguyễn Đình Vinh - Viện trưởng Viện Nông nghiệp và Tài nguyên, Trường Đại học Vinh khẳng định, đây là vấn đề thực tế mà các cơ sở đào tạo khối ngành nông, lâm, thủy sản đang phải đối mặt. Đặc thù của lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản là chi phí đào tạo tương đối cao, vì vậy, khi quy mô tuyển sinh thấp trong khi mức học phí không cao, nguồn thu từ học phí sẽ rất khó đáp ứng đầy đủ chi phí cần thiết để duy trì và nâng cao chất lượng đào tạo.

Theo thầy Vinh, nếu tình trạng này kéo dài, các ngành nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản có thể rơi vào một vòng luẩn quẩn: tuyển sinh ít dẫn đến nguồn lực đầu tư giảm, cơ sở vật chất khó được hiện đại hóa, việc duy trì và thu hút đội ngũ giảng viên giỏi gặp khó khăn, từ đó sức hấp dẫn của ngành tiếp tục suy giảm.

Đặc biệt, việc xây dựng đội ngũ giảng viên, nhà khoa học có chuyên môn sâu trong lĩnh vực nông nghiệp đòi hỏi thời gian dài. Nếu một ngành phải thu hẹp quy mô hoặc dừng tuyển sinh trong nhiều năm, hệ quả không chỉ là sụt giảm nguồn thu mà còn tiềm ẩn nguy cơ đứt gãy đội ngũ chuyên môn. Khi nhu cầu xã hội tăng trở lại, việc khôi phục một ngành đào tạo cũng không thể thực hiện trong một vài năm.

Từ thực tế đó, Tiến sĩ Nguyễn Đình Vinh cho rằng nếu Nhà nước triển khai chính sách miễn học phí, cần đặc biệt quan tâm đến cơ chế cấp bù học phí, bảo đảm kinh phí đào tạo cho các cơ sở giáo dục, đồng thời tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ đào tạo và nghiên cứu trong lĩnh vực nông nghiệp.

“Không nên hiểu miễn học phí là làm cho đào tạo trở thành hoạt động có chi phí thấp. Ngược lại, muốn đào tạo nguồn nhân lực nông nghiệp chất lượng cao trong thời đại công nghệ, chi phí đầu tư cho mỗi người học có thể còn cao hơn trước”, Viện trưởng Viện Nông nghiệp và Tài nguyên, Trường Đại học Vinh nhấn mạnh.

thay-vinh-dh-vinh.jpg
Tiến sĩ Nguyễn Đình Vinh - Viện trưởng Viện Nông nghiệp và Tài nguyên, Trường Đại học Vinh. Ảnh: NVCC

Bên cạnh miễn học phí cần chú trọng nâng cấp cơ sở vật chất hiện đại

Từ thực tế tuyển sinh của nhà trường trong nhiều năm qua, Tiến sĩ Nguyễn Đình Vinh đánh giá, đề xuất miễn học phí cho người học các ngành nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản là chính sách cần thiết, phù hợp với thực tiễn hiện nay.

Chính sách này không chỉ mang ý nghĩa hỗ trợ trực tiếp, giảm gánh nặng tài chính cho người học và gia đình, mà quan trọng hơn còn thể hiện sự quan tâm, nhìn nhận của Nhà nước và xã hội đối với tính đặc thù cũng như vai trò chiến lược của nguồn nhân lực trong các lĩnh vực này.

Theo Viện trưởng Viện Nông nghiệp và Tài nguyên, Trường Đại học Vinh, hiện đang tồn tại một nghịch lý khá rõ: nhu cầu nhân lực của doanh nghiệp, địa phương và xã hội đối với các ngành thuộc lĩnh vực nông nghiệp rất lớn, thậm chí ngày càng đòi hỏi nguồn nhân lực có trình độ chuyên môn cao, nhưng số lượng học sinh lựa chọn theo học lại chưa tương xứng.

“Tình trạng này xuất phát từ nhiều nguyên nhân, trong đó có vấn đề về thu nhập, cơ hội việc làm, nhận thức xã hội đối với nghề nghiệp và đặc biệt là chi phí học tập. Đây vẫn là yếu tố có ảnh hưởng đáng kể đến quyết định lựa chọn ngành học, nhất là với học sinh ở khu vực nông thôn, miền núi - những địa bàn có nguồn nhân lực tiềm năng và cũng là nơi nhiều sinh viên sau khi tốt nghiệp có thể trở về làm việc, đóng góp cho ngành nông nghiệp địa phương.

Vì vậy, nếu được triển khai hiệu quả, chính sách miễn học phí sẽ góp phần gia tăng sức hút đối với các ngành nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản, đồng thời giảm áp lực tài chính cho các gia đình.

Quan trọng hơn, chính sách có thể mở rộng cơ hội tiếp cận giáo dục đại học cho những học sinh có năng lực, có định hướng theo đuổi lĩnh vực nông nghiệp nhưng còn hạn chế về điều kiện kinh tế, qua đó góp phần thu hút và phát triển nguồn nhân lực cho một lĩnh vực có ý nghĩa quan trọng đối với nền kinh tế và quá trình phát triển bền vững”, thầy Vinh cho hay.

Để chính sách miễn học phí phát huy hiệu quả, Tiến sĩ Nguyễn Đình Vinh cho rằng cần triển khai đồng bộ nhiều giải pháp thay vì chỉ tập trung vào học phí. Nhà nước nên xác định một số ngành nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản thiết yếu là lĩnh vực đào tạo nhân lực chiến lược, có cơ chế đặt hàng đào tạo dài hạn và bảo đảm kinh phí tương xứng với chi phí thực tế, nhất là cho thực hành, thí nghiệm và cơ sở vật chất.

Đồng thời, cần mở rộng học bổng, hỗ trợ sinh hoạt phí, tín dụng ưu đãi và có chính sách khuyến khích sinh viên làm việc tại nông thôn, miền núi, vùng khó khăn sau tốt nghiệp.

Bên cạnh đó, cần đầu tư trọng điểm cho các cơ sở đào tạo về phòng thí nghiệm, trang trại thực nghiệm, nông nghiệp thông minh, công nghệ sinh học và hạ tầng dữ liệu; tăng cường liên kết doanh nghiệp thông qua đặt hàng nhân lực, học bổng, đồng thời đầu tư cơ sở vật chất, thực tập và tuyển dụng.

Công tác truyền thông, hướng nghiệp cũng cần được đổi mới để học sinh, phụ huynh hiểu rằng học nông nghiệp hiện nay không chỉ gắn với sản xuất truyền thống mà còn mở ra cơ hội trở thành kỹ sư công nghệ, nhà khoa học, chuyên gia quản lý hay doanh nhân.

“Miễn học phí là tín hiệu chính sách rất tích cực, nhưng mục tiêu cuối cùng không chỉ là tuyển đủ sinh viên mà phải hình thành thế hệ nhân lực nông nghiệp mới có tri thức, làm chủ công nghệ, có năng lực đổi mới sáng tạo và giải quyết những bài toán của nông nghiệp Việt Nam trong bối cảnh biến đổi khí hậu, chuyển đổi số và hội nhập quốc tế”, Tiến sĩ Nguyễn Đình Vinh nhấn mạnh.

s3.jpg
Sinh viên Trường Đại học Nông Lâm (Đại học Thái Nguyên). Ảnh: website nhà trường

Trong khi đó, Tiến sĩ Phan Thị Hồng Phúc nhận định chính sách miễn học phí đối với người học các ngành nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản nếu được thông qua sẽ tạo ra một “cú hích” tích cực, nhất là với học sinh ở khu vực nông thôn, miền núi và những gia đình còn gặp khó khăn về điều kiện kinh tế. Nó sẽ giúp người học có thêm cơ hội tiếp cận giáo dục đại học, đồng thời góp phần giảm bớt một trong những rào cản khiến thí sinh còn cân nhắc khi lựa chọn các ngành học này.

Dù vậy, Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Nông Lâm (Đại học Thái Nguyên) cho rằng, trong bối cảnh hiện nay, học phí không phải là yếu tố duy nhất quyết định lựa chọn ngành học của thí sinh. Bên cạnh chi phí đào tạo, học sinh và phụ huynh ngày càng quan tâm nhiều hơn đến cơ hội việc làm, mức thu nhập và triển vọng phát triển nghề nghiệp sau khi tốt nghiệp.

Vì vậy, chính sách miễn học phí sẽ phát huy hiệu quả tốt hơn nếu được triển khai đồng thời với việc nâng cao chất lượng đào tạo, tăng cường gắn kết giữa nhà trường và doanh nghiệp, cũng như tạo dựng lộ trình rõ ràng từ quá trình học tập đến cơ hội việc làm cho sinh viên sau khi ra trường. Khi người học nhìn thấy được tương lai nghề nghiệp và giá trị của ngành học, tác động của chính sách hỗ trợ học phí sẽ được nhân lên đáng kể.

Cũng theo cô Phúc, trước yêu cầu phát triển nông nghiệp công nghệ cao, chương trình đào tạo cần được đổi mới theo hướng hiện đại, liên ngành, tăng thực hành và gắn chặt với nhu cầu doanh nghiệp.

Theo đó, nội dung đào tạo không chỉ cần cập nhật các công nghệ như trí tuệ nhân tạo, tự động hóa, IoT, công nghệ sinh học, thiết bị bay không người lái, quản lý dữ liệu và truy xuất nguồn gốc, mà phải tích hợp trực tiếp vào các học phần chuyên môn và bài toán sản xuất thực tế để sinh viên có thể vận dụng sau khi tốt nghiệp.

Ngoài ra, cần chuyển mạnh từ đào tạo trên giảng đường sang học tập qua trải nghiệm tại phòng thí nghiệm, trang trại, doanh nghiệp và các mô hình sản xuất công nghệ cao. Doanh nghiệp cần tham gia sâu từ xây dựng chương trình, chuẩn đầu ra đến hướng dẫn thực hành và tuyển dụng.

Tại Trường Đại học Nông Lâm (Đại học Thái Nguyên), nhà trường đang tăng thời lượng thực hành, mở rộng đào tạo theo nhu cầu doanh nghiệp, đồng thời khuyến khích sinh viên nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ, đổi mới sáng tạo và khởi nghiệp.

“Để tạo sức hút là phải thay đổi cách giới thiệu ngành học và cơ hội nghề nghiệp tới học sinh. Sinh viên cần nhìn thấy một kỹ sư nông nghiệp trong tương lai có thể làm việc với dữ liệu, trí tuệ nhân tạo, hệ thống tự động, công nghệ giống, quản lý trang trại thông minh,...

Vì vậy, theo tôi, đổi mới chương trình đào tạo phải đi đồng thời theo ba hướng: công nghệ hóa nội dung đào tạo, thực tiễn hóa quá trình đào tạo và mở rộng không gian nghề nghiệp cho người học.

Khi đó, các ngành nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản không chỉ đáp ứng nhu cầu nhân lực trước mắt mà còn có thể thu hút một thế hệ người học mới có năng lực công nghệ, tư duy đổi mới sáng tạo và khát vọng tham gia phát triển nền nông nghiệp hiện đại của Việt Nam”, Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Nông Lâm (Đại học Thái Nguyên) nhấn mạnh.

Đình Nam