GS, PGS không hoàn thành nhiệm vụ được tạo thời hạn khắc phục trước khi miễn nhiệm

07/11/2026 06:22
Doãn Nhàn
Theo dõi trên Google News
0:00 / 0:00
0:00

GDVN - Dự thảo thông tư của Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định việc đánh giá định kỳ, xem xét miễn nhiệm chức danh GS, PGS; đồng thời nêu rõ các căn cứ thu hồi quyết định bổ nhiệm khi phát hiện gian lận hồ sơ, thành tích.

Dự thảo Thông tư quy định tiêu chuẩn, điều kiện, trình tự, thủ tục bổ nhiệm, miễn nhiệm chức danh giáo sư, phó giáo sư (bản ngày 5/11/2026) dành riêng các điều khoản quy định về việc thực hiện nhiệm vụ, đánh giá, miễn nhiệm và thu hồi quyết định bổ nhiệm.

Theo Điều 24, người được bổ nhiệm giáo sư, phó giáo sư có trách nhiệm thực hiện nhiệm vụ đào tạo, nghiên cứu khoa học, phát triển đội ngũ, tập thể và phục vụ cộng đồng phù hợp với vị trí chức danh. Cơ sở đào tạo có trách nhiệm cụ thể hóa nhiệm vụ, chỉ tiêu trong văn bản giao nhiệm vụ hoặc hợp đồng làm việc, hợp đồng lao động, đồng thời bảo đảm các điều kiện để người được bổ nhiệm thực hiện.

Kết quả thực hiện nhiệm vụ được cơ sở đào tạo theo dõi hằng năm và đánh giá tổng thể theo chu kỳ từ 3 đến 5 năm. Việc đánh giá căn cứ vào nhiệm vụ được giao, kết quả thực hiện và điều kiện thực tế; không yêu cầu người được bổ nhiệm phải tích lũy lại các thành tích bắt buộc đã sử dụng làm căn cứ bổ nhiệm.

Kết quả đánh giá là cơ sở để điều chỉnh nhiệm vụ, hỗ trợ phát triển chuyên môn, thực hiện chế độ hoặc xem xét miễn nhiệm chức danh.

1793937582918.png
Ảnh minh họa: DN

Chỉ xem xét miễn nhiệm khi đã tạo điều kiện khắc phục

Đáng chú ý, dự thảo quy định quy trình xử lý đối với trường hợp người được bổ nhiệm không hoàn thành nhiệm vụ. Theo đó, cơ sở đào tạo phải thông báo rõ nội dung chưa hoàn thành, xác định nguyên nhân, đề ra biện pháp hỗ trợ và ấn định thời hạn khắc phục từ 6 đến 12 tháng, tùy tính chất nhiệm vụ.

Việc xem xét miễn nhiệm do không hoàn thành nhiệm vụ chỉ được thực hiện khi cơ sở đào tạo đã bảo đảm điều kiện thực hiện, người được bổ nhiệm đã hết thời hạn khắc phục nhưng kết quả đánh giá vẫn cho thấy không đáp ứng yêu cầu. Cơ sở đào tạo không phải chờ thêm một chu kỳ đánh giá tổng thể mới được xem xét miễn nhiệm.

Thời gian nghỉ hợp pháp hoặc thời gian người được bổ nhiệm không có đủ điều kiện thực hiện nhiệm vụ do trách nhiệm bảo đảm thuộc về cơ sở đào tạo cũng phải được tính đến khi xác định thời hạn khắc phục.

Ngoài trường hợp không hoàn thành nhiệm vụ, dự thảo nêu một số căn cứ khác để xem xét miễn nhiệm, gồm: có kết luận vi phạm nghiêm trọng liêm chính học thuật, đạo đức nghề nghiệp trong thời gian giữ chức danh; có bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật làm mất điều kiện giữ vị trí; không thực hiện cam kết về hình thức làm việc; hoặc tự nguyện thôi giữ chức danh.

Trong trường hợp cần đánh giá chuyên môn hoặc phát sinh tranh chấp, cơ sở đào tạo thành lập Hội đồng có chuyên môn phù hợp. Hội đồng phải có quá nửa thành viên ngoài cơ sở đào tạo và không có xung đột lợi ích.

Thời hạn thẩm định của Hội đồng là 30 ngày. Quá trình này phải bảo đảm quyền giải trình trực tiếp hoặc bằng văn bản của người liên quan. Người có thẩm quyền quyết định việc miễn nhiệm trong vòng 15 ngày kể từ khi có kết luận của Hội đồng.

Dự thảo cũng phân biệt việc miễn nhiệm với trường hợp chấm dứt hiệu lực quyết định bổ nhiệm. Theo đó, khi hết thời hạn bổ nhiệm, chấm dứt quan hệ làm việc hoặc thôi giữ vị trí mà không chuyển sang vị trí tương đương, cơ sở đào tạo ghi nhận việc chấm dứt hiệu lực quyết định bổ nhiệm. Trường hợp này không mặc nhiên bị coi là miễn nhiệm do vi phạm.

Đặc biệt, người được bổ nhiệm không bị miễn nhiệm chỉ vì nhóm ngành không còn đáp ứng điều kiện quy định tại Điều 7 của dự thảo thông tư.

Thu hồi quyết định bổ nhiệm nếu phát hiện gian lận thành tích

Bên cạnh quy định về miễn nhiệm, Điều 25 của dự thảo quy định cụ thể các trường hợp thu hồi quyết định bổ nhiệm giáo sư, phó giáo sư.

Theo đó, cơ sở đào tạo thực hiện thu hồi khi có kết luận về một trong các hành vi: gian lận hồ sơ; sử dụng văn bằng không hợp pháp; đạo văn; ngụy tạo dữ liệu; mua bán quyền đứng tên tác giả; hoặc gian lận thành tích được sử dụng làm căn cứ bổ nhiệm.

Quyết định bổ nhiệm cũng bị thu hồi nếu xác định người được bổ nhiệm không đáp ứng tiêu chuẩn, điều kiện tại thời điểm được bổ nhiệm do minh chứng không hợp lệ làm sai lệch kết quả đánh giá, xếp hạng.

Tuy nhiên, dự thảo phân biệt sai sót kỹ thuật với hành vi gian lận làm ảnh hưởng đến kết quả bổ nhiệm. Những sai sót kỹ thuật không ảnh hưởng đến kết quả đánh giá, xếp hạng và bổ nhiệm sẽ được đính chính.

Đối với công bố khoa học bị rút, bị quan ngại, thay đổi chỉ mục hoặc xếp loại, dự thảo quy định những tình huống này không tự động dẫn đến việc thu hồi quyết định bổ nhiệm. Cơ sở đào tạo phải xác minh, xác định lại việc đáp ứng tiêu chuẩn theo Điều 11 của dự thảo và làm rõ trách nhiệm của cá nhân liên quan.

Thẩm quyền quyết định thu hồi thuộc về chủ thể có thẩm quyền bổ nhiệm. Trường hợp cơ sở đào tạo tổ chức lại, chủ thể kế thừa thẩm quyền sẽ thực hiện việc thu hồi; nếu cơ sở đào tạo giải thể, cơ quan có thẩm quyền theo quy định pháp luật sẽ giải quyết.

Về trình tự, trước khi thu hồi, cơ sở đào tạo phải thông báo căn cứ dự kiến thu hồi và dành 15 ngày để người liên quan giải trình. Sau đó, cơ sở tiến hành xác minh, lấy ý kiến chuyên môn độc lập khi cần thiết và ban hành quyết định trong vòng 30 ngày kể từ khi hết thời hạn giải trình. Nếu cần kéo dài thời gian xác minh, cơ sở phải thông báo lý do và thời hạn cụ thể.

Quyết định thu hồi phải nêu rõ căn cứ, được công khai và cập nhật theo quy định tại Điều 26 của dự thảo. Việc xem xét thu hồi không phụ thuộc vào việc người được bổ nhiệm còn làm việc tại cơ sở đào tạo hay không.

Đáng chú ý, dự thảo quy định việc thu hồi quyết định bổ nhiệm chức danh người hướng dẫn không đồng nghĩa với việc tự động hủy kết quả đào tạo của người học. Các chế độ đã hưởng, trách nhiệm và hoạt động chuyên môn liên quan được xử lý theo quy định pháp luật. Người bị thu hồi quyết định bổ nhiệm có quyền khiếu nại theo quy định.

Doãn Nhàn