Cô Trần Thị Nụ (sinh năm 1975) hiện là giáo viên Trường Mầm non Nậm Cuổi (xã Nậm Cuổi, tỉnh Lai Châu). Gắn bó với sự nghiệp giáo dục 22 năm, cô Nụ vinh dự nhận nhiều bằng khen, giấy khen từ các cấp, các ngành như Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ năm 2025 vì đã có thành tích xuất sắc trong công tác từ năm học 2018-2019 đến năm 2024, góp phần vào sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc; Danh hiệu Chiến sĩ thi đua cơ sở trong nhiều năm học, từ năm học 2013-2014 đến năm 2025; Bằng khen đại hội thi đua yêu nước tỉnh Lai Châu lần thứ VI (2025-2030).
Đặc biệt, cô là 1 trong 34 giáo viên tiêu biểu, xuất sắc được chương trình "Chia sẻ cùng thầy cô" năm 2026 lựa chọn tuyên dương ở Hà Nội vào tháng 11/2026 tới. Đây không chỉ là sự ghi nhận đối với những nỗ lực, cống hiến của cô trong sự nghiệp "trồng người" mà còn là nguồn động viên để cô tiếp tục tận tâm với nghề, đồng hành cùng học sinh trên hành trình chinh phục tri thức.
22 năm dành trọn tình yêu cho học sinh vùng cao
Sinh ra và lớn lên tại tỉnh Thái Bình cũ (nay thuộc tỉnh Hưng Yên), sau khi tốt nghiệp Trường Đại học Sư phạm Hà Nội năm 2004, cô Trần Thị Nụ đã viết đơn tình nguyện lên vùng cao công tác.
Chia sẻ với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, nữ giáo viên cho biết, quyết định ấy xuất phát từ mong muốn được mang kiến thức và tình yêu thương đến với trẻ em ở những địa bàn còn nhiều khó khăn, nơi điều kiện học tập và sinh hoạt còn thiếu thốn. Với cô, trở thành giáo viên là cơ hội để đóng góp sức mình cho sự nghiệp giáo dục, đồng hành cùng học sinh vùng cao trong những năm đầu đời và giúp các em có thêm điều kiện tiếp cận tri thức.
Nhớ lại những ngày đầu đến nhận công tác tại vùng cao, cô Nụ cho biết bản thân không tránh khỏi cảm giác bỡ ngỡ, nhớ nhà và chưa quen với nếp sinh hoạt của người dân địa phương. Tuy nhiên, điều khiến cô trăn trở hơn cả là hoàn cảnh sống còn nhiều thiếu thốn của trẻ nhỏ nơi đây.
Thời điểm đó, cuộc sống của người dân chủ yếu dựa vào nương rẫy. Vì bố mẹ thường xuyên phải đi làm xa nhà nên nhiều trẻ nhỏ không được quan tâm, chăm sóc. Phần lớn thời gian các em phải tự chơi một mình, thậm chí có em ra bờ sông, bờ suối chơi mà không có người lớn đi cùng. Ngoài điều kiện sống khó khăn, giáo dục mầm non tại địa phương cũng còn nhiều hạn chế khi cơ sở vật chất, điều kiện dạy học thiếu thốn, thiếu giáo viên; việc đưa trẻ đến trường học chưa được các gia đình quan tâm.
"Chứng kiến hoàn cảnh thiếu thốn của các em nhỏ, tôi vừa thương vừa trăn trở, mong muốn làm điều gì đó để giúp các em có điều kiện học tập và được chăm sóc tốt hơn. Vì vậy, tôi quyết tâm gắn bó với mảnh đất này, kiên trì với nghề và đồng hành cùng các em trên hành trình khôn lớn", cô Nụ chia sẻ.
Nữ giáo viên cho biết thêm, những năm đầu công tác tại vùng cao, cô phải đối mặt với không ít khó khăn, từ đường sá đi lại cách trở, cơ sở vật chất thiếu thốn đến việc vận động phụ huynh đưa trẻ đến lớp.
Lúc bấy giờ, điều kiện sinh hoạt còn nhiều bất tiện. Mỗi lần muốn mua sắm nhu yếu phẩm phục vụ cuộc sống hằng ngày, cô Nụ phải men theo bờ suối, vượt quãng đường khoảng gần 20 km xuống trung tâm xã. Cô thường tranh thủ cuối tuần để mua thực phẩm mang về dự trữ, phục vụ sinh hoạt trong những ngày tiếp theo. Những ngày mưa, việc đi lại càng thêm khó khăn, khiến cuộc sống nơi vùng cao vốn thiếu thốn lại càng vất vả hơn. Xa gia đình, chưa quen với nhịp sống nơi vùng cao, có những lúc cô Nụ nhớ nhà đến mức chỉ biết khóc.
Tuy nhiên, những trở ngại ấy không khiến cô từ bỏ lựa chọn của mình. Qua từng ngày đứng lớp, tiếp xúc và chăm sóc các em, cô hiểu được ý nghĩa công việc mình đang làm. Với học sinh ở địa bàn khó khăn, trường mầm non không chỉ là nơi học tập mà còn là ngôi nhà thứ hai để các em được chăm sóc, vui chơi và phát triển. Chính điều đó giúp cô thêm vững tin với quyết định của bản thân, từng bước vượt qua khó khăn và tiếp tục gắn bó với học trò nơi mảnh đất vùng cao.
Tận dụng lá cây, cành khô làm đồ chơi, học tiếng địa phương để giữ chân trẻ đến lớp
Tại các trường vùng cao, điều kiện cơ sở vật chất còn nhiều thiếu thốn, đồ chơi, học liệu phục vụ hoạt động giảng dạy chưa đầy đủ. Trước thực tế đó, cô Nụ đã tìm kiếm, tận dụng nguyên vật liệu sẵn có để tổ chức các hoạt động học tập, vui chơi cho học sinh. Cô tận dụng lá cây, cành khô… khéo léo tạo thành hình con ngựa, con trâu cùng những con vật ngộ nghĩnh, gần gũi với trẻ nhỏ. Qua đó, các em vừa có thêm niềm vui trong học tập, vừa được khuyến khích phát huy trí tưởng tượng cũng như khả năng sáng tạo.
Những nguyên vật liệu tưởng chừng bình dị ấy lại khơi gợi sự tò mò và hào hứng ở trẻ nhỏ. Khi được tự tay lựa chọn lá cây, cành khô và tham gia cùng cô trong quá trình tạo hình, các em có cơ hội trải nghiệm, khám phá và học cách biến những vật liệu quen thuộc thành sản phẩm của riêng mình. Với cô Nụ, niềm vui và sự chủ động của học sinh trong mỗi hoạt động chính là động lực để cô tiếp tục tìm tòi, đổi mới cách tổ chức các giờ học, giúp việc đến trường trở nên gần gũi, hấp dẫn hơn với các em.
Bên cạnh đó, sự khác biệt về ngôn ngữ cũng là trở ngại cô Nụ phải đối mặt trong những ngày đầu đến Nậm Cuổi. Phần lớn học sinh và người dân đều sử dụng tiếng địa phương trong giao tiếp hằng ngày, khiến việc trao đổi, trò chuyện và vận động phụ huynh đưa trẻ đến lớp gặp không ít khó khăn.
Để khắc phục rào cản này, cô Nụ chủ động học tiếng địa phương, trước hết để giao tiếp với người dân, tuyên truyền, vận động phụ huynh quan tâm hơn đến việc học tập của con em, sau đó để hiểu trẻ và hỗ trợ các em trong quá trình học tập.
Việc học tiếng địa phương giúp cô từng bước rút ngắn khoảng cách với học sinh và phụ huynh. Khi hiểu được ngôn ngữ, phong tục cũng như nếp sinh hoạt của người dân, cô có thể giao tiếp gần gũi hơn, tạo sự tin tưởng với gia đình học sinh, đồng thời giúp trẻ từng bước làm quen với tiếng Việt thông qua các hoạt động học tập và vui chơi tại trường.
Một khó khăn khác mà cô Nụ và đồng nghiệp phải đối mặt là vận động phụ huynh đưa trẻ đến lớp.
Theo cô, trước đây, vào đầu mỗi năm học, giáo viên thường phải dành từ 1-2 tháng để đến từng gia đình tuyên truyền, giải thích về tầm quan trọng của giáo dục mầm non, thuyết phục phụ huynh cho con đi học. Ở một số gia đình, những tập quán lâu đời vẫn ảnh hưởng đến việc học tập của trẻ. Có thời điểm, phụ huynh chưa thực sự coi trọng việc đưa con đến trường hoặc cho trẻ nghỉ học dài ngày để tham gia các nghi lễ truyền thống của người đồng bào dân tộc. Điều này khiến công tác huy động trẻ ra lớp gặp nhiều trở ngại, đòi hỏi giáo viên phải kiên trì giải thích, vận động để từng bước thay đổi nhận thức của phụ huynh.
"Với giáo viên mầm non vùng cao, kết thúc giờ học không có nghĩa là hết công việc. Ngoài chăm sóc, dạy dỗ ở lớp, thầy cô phải đến từng gia đình vận động phụ huynh đưa con đến trường, kiên trì giải thích để bà con hiểu được tầm quan trọng của việc học đối với tương lai của các em, từ đó khuyến khích phụ huynh đưa con đến lớp đều đặn hơn", cô Nụ cho hay.
Những đổi thay sau hơn hai thập kỷ
Sau hơn 20 năm công tác, điều khiến cô Nụ cảm thấy hạnh phúc là diện mạo trường lớp và nhận thức của phụ huynh về giáo dục mầm non đã có nhiều chuyển biến tích cực.
Nếu như những ngày đầu cô đến nhận công tác, cơ sở vật chất còn thiếu thốn, đường sá đi lại khó khăn thì nay, trường lớp đã khang trang, sạch sẽ hơn nhờ sự quan tâm, đầu tư của Đảng và Nhà nước dành cho các địa bàn vùng sâu, vùng xa.
Cùng với đó, nhận thức của phụ huynh về giáo dục mầm non đã từng bước thay đổi. Nhiều gia đình chủ động đưa con đến lớp, thay vì để trẻ ở nhà khi bố mẹ đi làm. Tại trường, các em được chăm sóc, bảo đảm chế độ ăn uống, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động giáo dục phù hợp với lứa tuổi. Chuyển biến tích cực này giúp công tác huy động trẻ ra lớp thuận lợi hơn, giảm bớt khó khăn cho giáo viên trong quá trình vận động phụ huynh.
Cô Nụ xúc động chia sẻ: "Những đổi thay ấy là niềm vui và cũng là động lực để thầy cô vùng cao tiếp tục gắn bó với nghề. Mỗi chuyển biến nhỏ đều là kết quả của quá trình nỗ lực bền bỉ, sự tận tâm của giáo viên và sự chung tay của gia đình, cộng đồng trong việc chăm lo cho thế hệ tương lai".
Khi nhận được thông báo cô là một trong 34 giáo viên tiêu biểu, xuất sắc được chương trình "Chia sẻ cùng thầy cô" năm 2026 tuyên dương tại Hà Nội, cô Nụ không khỏi xúc động và tự hào. Với nữ giáo viên, đây không chỉ là sự ghi nhận những năm tháng tận tụy với nghề, mà còn là dịp để cô nhìn lại hành trình đã qua, từ những ngày đầu đứng lớp với không ít khó khăn đến những khoảnh khắc ý nghĩa khi chứng kiến sự trưởng thành của học trò. Sự động viên từ chương trình cũng tiếp thêm động lực để cô tiếp tục gắn bó với nghề, kiên trì trên hành trình gieo chữ và lan tỏa những giá trị tốt đẹp của giáo dục.
Thông qua chương trình, cô Nụ cũng muốn gửi gắm tới những thầy cô đang công tác tại vùng khó khăn, các bạn trẻ đang trên hành trình theo đuổi nghề giáo thông điệp về sự kiên trì cùng tinh thần trách nhiệm với học sinh.
"Tôi hy vọng các thầy cô đã, đang và sẽ công tác tại vùng khó khăn, vùng núi, vùng sâu, vùng xa sẽ luôn giữ vững nhiệt huyết, thêm yêu thương và gắn bó với học trò, đồng thời kiên trì tìm tòi phương pháp giảng dạy phù hợp với điều kiện thực tế để giúp các em tiếp cận kiến thức hiệu quả hơn. Sự tận tâm của người thầy không chỉ giúp học sinh tích lũy tri thức mà còn góp phần nuôi dưỡng ước mơ, tạo thêm cơ hội để các em vươn lên trong cuộc sống, từ đó đóng góp vào sự phát triển của quê hương, đất nước", cô Nụ bày tỏ.