Bộ Giáo dục và Đào tạo đang lấy ý kiến dự thảo lần 2 Nghị định về hỗ trợ người học, giảng viên đi học tập, thỉnh giảng, nghiên cứu ở nước ngoài với một số ngành, lĩnh vực trọng điểm.
Đáng chú ý, so với lần 1, dự thảo lần 2 đã bỏ quy định giảng viên được giữ nguyên lương các khoản phụ cấp khi đi thỉnh giảng và trao đổi học thuật ở nước ngoài. Bộ cho biết việc bỏ quy định này được thực hiện theo yêu cầu của Bộ Nội vụ nhằm tránh phát sinh bất hợp lý đối với cán bộ, công chức, viên chức.
Theo đại diện một số cơ sở giáo dục đại học, đây là sự thay đổi cần thiết nhưng việc điều chỉnh chính sách cần được xem xét trên hai phương diện: vừa bảo đảm tính thống nhất của chính sách tiền lương, vừa tạo điều kiện để giảng viên có cơ hội phát triển chuyên môn, học thuật.
Đề xuất cơ chế hỗ trợ bổ sung để hài hòa giữa việc tuân thủ pháp luật và tạo động lực cho giảng viên
Chia sẻ với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, Tiến sĩ Đỗ Khắc Thanh - Hiệu trưởng Trường Đại học Hùng Vương cho rằng, việc dự thảo lần 2 điều chỉnh theo hướng bỏ quy định giảng viên được giữ nguyên lương các khoản phụ cấp khi đi thỉnh giảng và trao đổi học thuật ở nước ngoài (giảng viên chỉ hưởng 40% mức lương hiện hưởng, theo Khoản 4 Điều 8 Nghị định số 204/2004/NĐ-CP về chế độ tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang) là một sự điều chỉnh cần thiết để đảm bảo tính đồng bộ, thống nhất với hệ thống pháp luật về tiền lương, cán bộ, công chức, viên chức hiện hành của Bộ Nội vụ.
Tuy nhiên, theo thầy Thanh, xét về góc độ thực tiễn, sự thay đổi này chắc chắn sẽ có ảnh hưởng nhất định đến tâm lý và quyết định của giảng viên bởi cần nhìn nhận rằng, mặt bằng lương cơ bản của giảng viên hiện nay chưa cao.
“Khi đi thỉnh giảng hoặc nghiên cứu ở nước ngoài, ngoài việc lo cho bản thân, giảng viên vẫn còn trách nhiệm trang trải chi phí sinh hoạt, nuôi dưỡng gia đình tại Việt Nam. Việc giảm đi 60% lương trong nước cộng các khoản phụ cấp có thể tạo ra áp lực tài chính không nhỏ, làm giảm động lực tham gia”, thầy Thanh bày tỏ.
Từ đó, Hiệu trưởng Trường Đại học Hùng Vương đề xuất cơ chế hỗ trợ bổ sung để hài hòa giữa việc tuân thủ pháp luật và tạo động lực cho giảng viên. Cụ thể, Nghị định cần có những điều khoản "mở", cho phép các cơ sở giáo dục đại học được chủ động sử dụng quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp hoặc các nguồn thu hợp pháp khác để chi hỗ trợ thêm cho giảng viên trong thời gian đi thỉnh giảng. Việc hỗ trợ này có thể được quy định dưới dạng "khoản hỗ trợ đặc thù" từ đơn vị cử đi, căn cứ vào Quy chế chi tiêu nội bộ của từng trường.
Tiến sĩ Đỗ Khắc Thanh cũng cho biết thêm, dự thảo Nghị định có tính phù hợp cao khi đáp ứng đúng nhu cầu thực tiễn của các trường đại học trong quá trình quốc tế hóa đội ngũ giảng viên, đồng thời tạo điều kiện để các cơ sở giáo dục đại học tiếp cận với những thành tựu khoa học, công nghệ tiên tiến trên thế giới.
Nếu được ban hành và triển khai hiệu quả, chính sách này có thể trở thành một “cú hích” quan trọng, góp phần thúc đẩy phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, đặc biệt trong các lĩnh vực trọng điểm như công nghệ thông tin, trí tuệ nhân tạo, công nghệ bán dẫn và công nghệ sinh học.
Về tính khả thi, Hiệu trưởng Trường Đại học Hùng Vương cho rằng yếu tố quyết định nằm ở cơ chế tài chính đi kèm chính sách. Nếu Nhà nước thành lập một quỹ hỗ trợ quốc gia hoặc bố trí nguồn ngân sách Trung ương dành riêng cho đề án, tương tự cách thức triển khai Đề án 89 về nâng cao năng lực đội ngũ giảng viên, cán bộ quản lý các cơ sở giáo dục đại học giai đoạn 2019–2030, thì khả năng triển khai chính sách trên thực tế sẽ rất cao.
Ngược lại, nếu chỉ dừng ở việc cho phép các trường tự cân đối và chi hỗ trợ, sức hấp dẫn của chính sách sẽ giảm đáng kể, bởi tiềm lực tài chính giữa các cơ sở giáo dục đại học hiện còn có sự chênh lệch lớn. Theo đó, để chính sách thực sự đi vào cuộc sống và tạo tác động đồng đều, cần có cơ chế tài chính đủ mạnh, ổn định và phù hợp với điều kiện thực tế của các trường.
Trong khi đó, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Vũ Quỳnh - Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Lạc Hồng nhận định, việc điều chỉnh chính sách cần được xem xét trên hai phương diện: vừa bảo đảm tính thống nhất của chính sách tiền lương, vừa tạo điều kiện để giảng viên có cơ hội phát triển chuyên môn, học thuật.
Trong trường hợp giảng viên được cử đi nước ngoài để thực hiện các nhiệm vụ đào tạo, nghiên cứu khoa học hoặc hợp tác quốc tế theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền, chính sách cần bảo đảm để giảng viên không phải chịu thiệt thòi quá lớn về thu nhập trong thời gian thực hiện nhiệm vụ.
Dù vậy, theo thầy Quỳnh, việc xây dựng chính sách cũng cần đặt trong tổng thể các quy định chung về tiền lương, tránh hình thành những cơ chế thiếu đồng bộ giữa các nhóm đối tượng. Vì vậy, cần làm rõ chế độ tiền lương đối với từng trường hợp cụ thể, đặc biệt là khi giảng viên được cơ quan có thẩm quyền cử đi thực hiện nhiệm vụ ở nước ngoài và khi giảng viên đã nhận được nguồn tài trợ từ các tổ chức, cá nhân nước ngoài.
Bên cạnh đó, có thể nghiên cứu cơ chế hỗ trợ bổ sung theo hướng hợp pháp, minh bạch, nhằm bù đắp một phần các chi phí thực tế phát sinh trong quá trình thực hiện nhiệm vụ.
“Điều quan trọng là chính sách phải giúp giảng viên yên tâm tham gia các hoạt động chuyên môn, học thuật, chứ không để những cơ hội phát triển nghề nghiệp trở thành gánh nặng tài chính đối với cá nhân”, Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Lạc Hồng nhấn mạnh.
Cùng trao đổi về dự thảo lần này, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Trần Viết Long - Trưởng phòng, phòng Đào tạo, Trường Đại học Luật (Đại học Huế) khẳng định việc xây dựng dự thảo Nghị định về hỗ trợ người học, giảng viên đi học tập, thỉnh giảng, nghiên cứu và trao đổi học thuật ở nước ngoài là cần thiết, phù hợp với chủ trương của Đảng và Nhà nước về phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, nâng cao trình độ chuyên môn và tăng cường hội nhập quốc tế trong giáo dục.
Việc thiết kế chính sách hỗ trợ có trọng tâm đối với các ngành, lĩnh vực ưu tiên, đồng thời gắn với thế mạnh của quốc gia tiếp nhận và chất lượng của cơ sở đào tạo, nghiên cứu là hướng tiếp cận phù hợp với yêu cầu phát triển giáo dục trong giai đoạn hiện nay.
Theo thầy Long, dự thảo không chỉ tập trung vào cơ chế hỗ trợ mà còn đề cập đến việc tuyển chọn theo hướng công khai, minh bạch, gắn quyền lợi với trách nhiệm đóng góp và yêu cầu về sản phẩm đầu ra phù hợp với từng chương trình. Đây là những yếu tố quan trọng nhằm vừa tạo động lực cho người tham gia, vừa nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực và bảo đảm đầu tư đúng mục tiêu.
Từ thực tiễn hoạt động tại Trường Đại học Luật (Đại học Huế), Phó Giáo sư, Tiến sĩ Trần Viết Long cho rằng, để chính sách phát huy hiệu quả lâu dài, quá trình hoàn thiện cần tiếp tục bám sát các chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước về phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, bảo đảm sự thống nhất với hệ thống pháp luật liên quan và phù hợp với nhu cầu thực tiễn.
Đồng thời, cần mở rộng việc lấy ý kiến từ các nhóm đối tượng chịu tác động trực tiếp, nhất là người học, giảng viên và cơ sở giáo dục. Việc xây dựng, cập nhật danh mục các ngành, lĩnh vực trọng điểm cũng cần được thực hiện linh hoạt, gắn với nhu cầu phát triển đất nước và bảo đảm tính bền vững về nguồn lực trong dài hạn.
Cần làm rõ về cơ chế chọn lọc, kinh phí hỗ trợ và cơ chế “hậu thỉnh giảng”
Cũng theo dự thảo lần 2 Nghị định về hỗ trợ người học, giảng viên đi học tập, thỉnh giảng, nghiên cứu ở nước ngoài với một số ngành, lĩnh vực trọng điểm, giảng viên sẽ được hỗ trợ 1 vé máy bay khứ hồi hạng phổ thông; lệ phí hộ chiếu, visa; bảo hiểm y tế; sinh hoạt phí hàng tháng, cũng như nhận hỗ trợ sinh hoạt phí ở mức cao nhất theo các đề án, chương trình học bổng du học của Chính phủ.
Đánh giá về chính sách hỗ trợ, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Vũ Quỳnh khẳng định các khoản hỗ trợ dự kiến trong chính sách là cần thiết và đã bao quát những chi phí cơ bản mà giảng viên có thể phát sinh khi ra nước ngoài công tác, học tập và nghiên cứu.
Tuy nhiên, để đánh giá chính sách có thực sự đáp ứng đầy đủ nhu cầu thực tế hay không, cần xác định cụ thể mức hỗ trợ theo từng quốc gia, thời gian lưu trú và tính chất của hoạt động. Bởi chi phí sinh hoạt giữa các quốc gia, khu vực có sự chênh lệch đáng kể; ngoài các khoản ăn, ở, giảng viên còn có thể phát sinh chi phí đi lại nội địa, mua tài liệu chuyên môn và phục vụ hoạt động nghiên cứu.
Theo Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Lạc Hồng, dự thảo cần quy định rõ hơn về mức hỗ trợ, thời điểm bắt đầu và kết thúc hưởng hỗ trợ, cũng như phương án xử lý trong những trường hợp thời gian công tác kéo dài hoặc giảng viên đã nhận được một phần kinh phí tài trợ từ tổ chức, cá nhân khác.
Đặc biệt, cần xác định minh bạch nguồn ngân sách, cơ quan chịu trách nhiệm chi trả, phương thức thanh quyết toán và nguyên tắc tránh thanh toán trùng lặp giữa các nguồn kinh phí.
“Theo tôi, nên có mức hỗ trợ cơ bản thống nhất, kết hợp hệ số điều chỉnh theo địa bàn và thời gian công tác, trên cơ sở định mức chi hợp lý và khả năng cân đối ngân sách. Như vậy, chính sách vừa đáp ứng nhu cầu thiết thực, vừa bảo đảm công khai và khả thi khi triển khai”, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Vũ Quỳnh chia sẻ.
Bên cạnh đó, Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Lạc Hồng cho rằng, dự thảo cần bổ sung ba nhóm cơ chế. Thứ nhất, lựa chọn đúng người, đúng lĩnh vực và đúng nhu cầu phát triển của cơ sở giáo dục; ưu tiên giảng viên có kế hoạch chuyên môn rõ ràng, đối tác nước ngoài phù hợp và khả năng chuyển hóa kiến thức thành kết quả cụ thể.
Thứ hai, thiết lập cam kết đầu ra tương xứng với thời gian và kinh phí hỗ trợ, đồng thời quy định rõ trách nhiệm của giảng viên và cơ sở cử đi, tránh đặt ra yêu cầu quá cứng nhắc đối với những kết quả phụ thuộc vào điều kiện nghiên cứu.
Thứ ba, cần có cơ chế hỗ trợ sau khi giảng viên trở về, như kinh phí triển khai nghiên cứu tiếp nối, hình thành nhóm nghiên cứu, phát triển chương trình đào tạo, chuyển giao công nghệ và kết nối doanh nghiệp.
Đồng quan điểm, Tiến sĩ Đỗ Khắc Thanh cho rằng, nhìn chung, danh mục các khoản hỗ trợ trong dự thảo, gồm vé máy bay khứ hồi, lệ phí visa, hộ chiếu, bảo hiểm y tế và sinh hoạt phí, đã bao quát tương đối đầy đủ những nhu cầu thiết yếu của giảng viên khi ra nước ngoài công tác, học tập. Đặc biệt, việc áp dụng mức sinh hoạt phí ở mức cao nhất theo các đề án của Chính phủ là một điểm tích cực, góp phần nâng cao sức hấp dẫn và khả năng tham gia của đội ngũ giảng viên.
Dù vậy, để chính sách có thể triển khai hiệu quả, đồng thời hạn chế những vướng mắc trong quá trình thực hiện và giải ngân, cần làm rõ một số vấn đề.
Trước hết là nguồn kinh phí hỗ trợ. Theo thầy Thanh, cần xác định rõ khoản kinh phí này được bố trí từ ngân sách Nhà nước theo chương trình, đề án cụ thể hay do các trường đại học tự cân đối từ các nguồn thu hợp pháp. Nếu yêu cầu các trường tự chủ phải tự bảo đảm toàn bộ chi phí hỗ trợ ở mức cao nhất, đây sẽ là bài toán không dễ đối với các trường đại học địa phương, đại học vùng, nơi nguồn thu còn hạn chế.
Bên cạnh đó, Hiệu trưởng Trường Đại học Hùng Vương cho rằng khái niệm “mức cao nhất” cần được lượng hóa bằng các hệ số linh hoạt và có cơ chế điều chỉnh định kỳ, phù hợp với biến động lạm phát cũng như mặt bằng chi phí sinh hoạt thực tế tại từng quốc gia, khu vực. Bởi chi phí sinh hoạt tại Mỹ, châu Âu, Australia có thể khác biệt đáng kể so với nhiều quốc gia châu Á, do đó việc áp dụng một mức hỗ trợ cứng có thể chưa phản ánh đúng nhu cầu thực tế.
Ngoài các khoản hỗ trợ thiết yếu, Tiến sĩ Đỗ Khắc Thanh cũng đề xuất nghiên cứu bổ sung chi phí học thuật, như mua tài liệu chuyên khảo, phần mềm nghiên cứu hoặc lệ phí tham dự các hội thảo quốc tế trong thời gian giảng viên thỉnh giảng, học tập và nghiên cứu ở nước ngoài, vì đây là các chi phí tất yếu để phát triển nghiên cứu.
Từ thực tiễn quản lý và hoạt động, Hiệu trưởng Trường Đại học Hùng Vương đề xuất dự thảo cần có “độ mở” trong xác định lĩnh vực trọng điểm. Bên cạnh danh mục do Chính phủ quy định (như bán dẫn, AI, năng lượng mới,...), cần giao quyền cho Hội đồng trường/Ban Giám hiệu quyết định cử giảng viên đi học tập dựa trên "lĩnh vực trọng điểm theo chiến lược phát triển của trường và nhu cầu của địa phương". Chẳng hạn, các trường ở trung du, miền núi có thể ưu tiên nông - lâm nghiệp công nghệ cao, quản lý tài nguyên hoặc phát triển du lịch bền vững.
Về cơ chế chọn lọc và ràng buộc trách nhiệm, cần quy định quy trình xét chọn công khai, minh bạch dựa trên năng lực nghiên cứu, công bố quốc tế và khả năng ngoại ngữ. Giảng viên được hưởng chính sách phải có hợp đồng cam kết trách nhiệm rõ ràng, với thời gian phục vụ tại trường sau khi về nước tối thiểu gấp 2–3 lần thời gian đi thỉnh giảng, học tập; nếu vi phạm phải bồi hoàn toàn bộ kinh phí.
Ngoài ra, cần chú trọng cơ chế “hậu thỉnh giảng”. Theo Tiến sĩ Đỗ Khắc Thanh, đây là cơ chế dễ bị bỏ ngỏ nhất. Nếu giảng viên đi học tập ở nước ngoài với trang thiết bị hiện đại, nhưng về nước không có phòng thí nghiệm, không có nhóm nghiên cứu để làm việc thì sẽ rất lãng phí.
“Dự thảo nên có thêm định hướng hoặc điều khoản khuyến khích các trường xây dựng cơ sở hạ tầng tương xứng, hoặc có cơ chế cấp một khoản "vốn mồi" ban đầu để giảng viên thiết lập nhóm nghiên cứu, ứng dụng ngay các kết quả học thuật học hỏi được từ nước ngoài vào môi trường giáo dục trong nước”, Hiệu trưởng Trường Đại học Hùng Vương cho hay.