Nghị quyết 37/2026/NQ-CP của Chính phủ về cơ cấu, số lượng và một số chính sách đối với hiệu trưởng, giám đốc, phó hiệu trưởng, phó giám đốc, nhân sự hỗ trợ giáo dục khi thực hiện sắp xếp cơ sở giáo dục mầm non, phổ thông, thường xuyên, giáo dục nghề nghiệp công lập cấp tỉnh, cấp xã đang tạo ra một cơ chế đặc thù để sắp xếp tinh gọn đầu mối cơ sở giáo dục công lập. Theo đó, trường chính được bố trí 1 phó hiệu trưởng, mỗi phân hiệu được bố trí 1 phó hiệu trưởng. Cơ cấu tổ chức này giúp giải quyết bài toán quản lý các trường có nhiều địa điểm sau sáp nhập, nhưng cũng đặt ra câu hỏi lớn: khi Nghị quyết 37 hết hiệu lực vào ngày 30/6/2028, một trường sẽ còn được bố trí tối đa bao nhiêu phó hiệu trưởng?
Theo Nghị quyết 37/2026/NQ-CP, mỗi trường có tối đa bao nhiêu phó hiệu trưởng?
Ngày 5/8/2026, Chính phủ ban hành Nghị quyết 37/2026/NQ-CP về cơ cấu, số lượng và một số chính sách đối với hiệu trưởng, giám đốc, phó hiệu trưởng, phó giám đốc và nhân sự hỗ trợ giáo dục khi thực hiện sắp xếp các cơ sở giáo dục công lập cấp tỉnh, cấp xã.
Đáng chú ý, Nghị quyết 37 là cách tiếp cận về số lượng cấp phó gắn với mô hình tổ chức thực tế của trường sau sắp xếp, thay vì chỉ căn cứ đơn thuần vào tổng số biên chế hay số lớp.
Theo Điều 4 Nghị quyết 37, mỗi cơ sở giáo dục có 1 hiệu trưởng hoặc giám đốc. Đối với cơ sở giáo dục mầm non, cơ sở giáo dục phổ thông và trung tâm giáo dục thường xuyên, trường chính được bố trí 1 phó hiệu trưởng hoặc phó giám đốc; mỗi phân hiệu được bố trí 1 phó hiệu trưởng hoặc phó giám đốc.
Đây là điểm rất khác so với cách xác định số lượng cấp phó theo một mức trần chung. Nghị quyết 37 lấy số lượng phân hiệu làm một trong những căn cứ trực tiếp để xác định số lượng phó hiệu trưởng.
Như vậy, một trường chỉ có trường chính, không có phân hiệu thì theo cơ chế của Nghị quyết 37 được bố trí 1 phó hiệu trưởng.
Nếu trường có 1 trường chính và 2 phân hiệu thì có thể bố trí 3 phó hiệu trưởng.
Nếu có 1 trường chính và 5 phân hiệu thì có thể bố trí 6 phó hiệu trưởng.
Nếu có 1 trường chính và 12 phân hiệu thì số lượng theo công thức này là 13 phó hiệu trưởng.
Vì vậy, số lượng phó hiệu trưởng của từng cơ sở giáo dục phụ thuộc vào số lượng phân hiệu được tổ chức trong cơ cấu của cơ sở giáo dục đó.
Theo người viết, cách thiết kế này có ưu điểm là gắn cán bộ quản lý với địa bàn quản trị thực tế.
Ví dụ, trường A sau sáp nhập có trường chính tại trung tâm xã và 3 phân hiệu ở ba địa bàn khác nhau. Nếu chỉ có 1 hoặc 2 phó hiệu trưởng, việc kiểm tra, điều hành, xử lý tình huống tại các phân hiệu có thể gặp khó khăn. Với cơ chế của Nghị quyết 37, mỗi phân hiệu có một phó hiệu trưởng trực tiếp phụ trách, trong khi hiệu trưởng và phó hiệu trưởng trường chính điều hành thống nhất toàn trường.
Nghị quyết 37/2026/NQ-CP hết hiệu lực ngày 30/6/2028, nếu áp dụng Nghị định 299/2026/NĐ-CP mỗi trường được bố trí tối đa bao nhiêu phó hiệu trưởng?
Nghị quyết 37/2026/NQ-CP được ban hành ngày 5/8/2026 và có hiệu lực từ ngày ký. Tại Điều 7 quy định Nghị quyết có hiệu lực đến hết ngày 30/6/2028.
Như vậy, đây là một chính sách có thời hạn, được thiết kế để phục vụ giai đoạn sắp xếp, ổn định tổ chức các cơ sở giáo dục sau sáp nhập.
Điều này đồng nghĩa không thể mặc nhiên cho rằng công thức 1 phó hiệu trưởng ở trường chính và 1 phó hiệu trưởng ở mỗi phân hiệu sẽ được áp dụng sau ngày 30/6/2028, khi Nghị quyết 37 hết hiệu lực.
Nếu từ nay đến thời điểm 30/6/2028 Chính phủ không ban hành văn bản mới thay thế, sửa đổi hoặc có quy định đặc thù khác thì một trong những căn cứ quan trọng cần áp dụng là Nghị định 299/2026/NĐ-CP ngày 28/7/2026 của Chính phủ về tổ chức đơn vị sự nghiệp công lập có hiệu lực từ ngày 28/7/2026, cùng các quy định pháp luật chuyên ngành có liên quan.
Có thể hiểu đơn giản Nghị định 299 đã có hiệu lực, nhưng trong giai đoạn Nghị quyết 37 có quy định đặc thù về số lượng phó hiệu trưởng khi sắp xếp cơ sở giáo dục thì cơ chế đặc thù của Nghị quyết 37 được áp dụng đối với đối tượng thuộc phạm vi điều chỉnh của Nghị quyết. Khi Nghị quyết 37 hết hiệu lực, cần trở lại khung pháp lý chung và pháp luật chuyên ngành đang có hiệu lực tại thời điểm đó, trừ khi có quy định mới.
Tại khoản 2 Điều 6. Tự chủ về tổ chức bộ máy của Nghị định 299/2026/NĐ-CP quy định:
2. Về khung số lượng cấp phó của người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập
a) Đối với đơn vị sự nghiệp công lập tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư, đơn vị sự nghiệp công lập tự bảo đảm chi thường xuyên: số lượng cấp phó được thực hiện theo đề án thành lập (trong trường hợp thành lập mới) hoặc đề án tự chủ của đơn vị đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt;
b) Đối với đơn vị sự nghiệp công lập tự bảo đảm một phần chi thường xuyên, đơn vị sự nghiệp công lập do ngân sách nhà nước bảo đảm chi thường xuyên:
Số lượng cấp phó của các đơn vị thuộc cơ cấu tổ chức của bộ được bố trí bình quân không quá 03 người trên một đơn vị.
Đơn vị quy định tại điểm a khoản 1 (trừ các đơn vị thuộc cơ cấu tổ chức của bộ) và điểm a khoản 2 Điều 2 Nghị định này có số lượng người làm việc được giao từ 20 người trở xuống được bố trí không quá 02 cấp phó; có số lượng người làm việc được giao từ trên 20 người được bố trí không quá 03 cấp phó.
Đơn vị quy định tại điểm b, c và d khoản 1, điểm b, c và d khoản 2 và khoản 3 Điều 2 Nghị định này được bố trí không quá 02 cấp phó. Đối với bệnh viện hạng I trở lên; đơn vị sự nghiệp y tế làm nhiệm vụ kiểm soát và phòng chống bệnh tật tuyến tỉnh hạng I trở lên; trường phổ thông có nhiều cấp học có quy mô từ 40 lớp trở lên thì được bố trí không quá 03 cấp phó.
Đối với trường trung học phổ thông thuộc điểm b khoản 2 gồm: "b) Đơn vị sự nghiệp công lập thuộc cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh (sau đây gọi chung là sở);
Như vậy, trường trung học phổ thông quy định không được bố trí quá 2 phó hiệu trưởng.
Và, đối với các trường mầm non đến trung học cơ sở thuộc khoản 3 Điều 2 gồm: "3. Đơn vị sự nghiệp công lập thuộc Ủy ban nhân dân xã, phường, đặc khu thuộc tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp xã)." được bố trí không quá 02 cấp phó, tức không quá 2 phó hiệu trưởng.
Còn đối với các trường phổ thông có nhiều cấp học có quy mô từ 40 lớp trở lên thì được bố trí không quá 03 cấp phó.
Như vậy, theo Nghị định 299, số lượng phó hiệu trưởng trường mầm non, tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông một cấp học quy định tối đa không được quá 2 cấp phó, trường phổ thông có nhiều cấp học có quy mô từ 40 lớp trở lên thì mới được bố trí không quá 03 cấp phó.
Ví dụ, một trường phổ thông có nhiều cấp học, chẳng hạn trường có cả tiểu học và trung học cơ sở, nếu quy mô đạt từ 40 lớp trở lên thì thuộc trường hợp được Nghị định 299 quy định mức không quá 3 phó hiệu trưởng.
Một trường khác có 60 lớp nhưng chỉ tổ chức một cấp học, chẳng hạn chỉ là trường trung học cơ sở, quy định của Nghị định 299/2026/NĐ-CP chỉ được bố trí tối đa không quá 2 phó hiệu trưởng.
Trong giai đoạn Nghị quyết 37 còn hiệu lực, một trường trung học cơ sở có 1 trường chính và 5 phân hiệu có thể có 6 phó hiệu trưởng theo cơ chế “1 tại trường chính + 1 tại mỗi phân hiệu”.
Nhưng khi Nghị quyết 37 hết hiệu lực, nếu pháp luật không có quy định mới và trường vẫn là trường trung học cơ sở một cấp học thuộc nhóm áp dụng khung chung của Nghị định 299, thì số lượng phó hiệu trưởng được bố trí tối đa 2 người.
Đôi điều kiến nghị
Nhìn từ thực tiễn quản lý trường học sau sáp nhập, có thể thấy cả hai mô hình đều có những ưu điểm và vấn đề cần giải quyết.
Nghị quyết 37 có ưu điểm rõ ràng khi cho phép gắn số lượng phó hiệu trưởng với số lượng phân hiệu. Đây là giải pháp có tính thực tiễn trong giai đoạn đầu sắp xếp.
Một trường có nhiều phân hiệu, nằm ở nhiều địa bàn khác nhau, nếu chỉ có một hoặc hai cán bộ quản lý thì việc điều hành có thể gặp khó khăn. Khoảng cách địa lý, quy mô học sinh, số lượng giáo viên, cơ sở vật chất, an toàn trường học, nền nếp học sinh và các hoạt động chuyên môn khiến yêu cầu quản trị thực tế cao hơn nhiều so với một trường chỉ hoạt động tại một địa điểm.
Tuy nhiên, nếu mô hình “mỗi phân hiệu một phó hiệu trưởng” được duy trì lâu dài mà không tính đến quy mô thực tế, cũng có thể dẫn tới bộ máy quản lý quá lớn.
Chẳng hạn, một trường có 1 trường chính và 12 phân hiệu sẽ có 13 phó hiệu trưởng theo công thức của Nghị quyết 37. Khi số lượng cán bộ quản lý tăng lên rất lớn, vấn đề không chỉ nằm ở kinh phí mà còn ở nguy cơ chồng chéo trong chỉ đạo, phân công và trách nhiệm.
Một cơ sở giáo dục dù có nhiều địa điểm vẫn chỉ có một hiệu trưởng chịu trách nhiệm thống nhất. Nếu có quá nhiều phó hiệu trưởng nhưng nhiệm vụ không được phân định rõ, rất dễ xuất hiện tình trạng cùng chỉ đạo một công việc, nhiều người cùng tham gia xử lý nhưng trách nhiệm cuối cùng lại không rõ ràng.
Do đó, theo hướng quản trị dài hạn, cần nghiên cứu một mô hình kết hợp giữa quy mô trường và số lượng địa điểm.
Một phương án có thể được nghiên cứu là xác định số lượng phó hiệu trưởng theo một khung cơ bản, sau đó cho phép tăng thêm cấp phó đối với trường có nhiều phân hiệu, khoảng cách địa lý lớn hoặc có quy mô đặc thù.
Chẳng hạn, có thể nghiên cứu nguyên tắc trường một địa điểm áp dụng mức cơ bản; trường có từ một số lượng phân hiệu nhất định được bổ sung cấp phó theo tiêu chí; trường có rất nhiều phân hiệu thì có thể tổ chức người phụ trách phân hiệu hoặc cụm phân hiệu nhưng không nhất thiết mỗi phân hiệu đều phải là một chức danh phó hiệu trưởng.
Hai trường cùng có 40 lớp nhưng điều kiện quản trị có thể hoàn toàn khác nhau. Một trường có 40 lớp tập trung tại một khuôn viên sẽ khác trường có 40 lớp phân tán tại 5 hoặc 6 địa điểm cách nhau hàng chục kilomet.
Một trường có 40 lớp với học sinh tập trung, giao thông thuận lợi cũng khác một trường có cùng số lớp nhưng địa bàn rộng, dân cư phân tán, điều kiện đi lại khó khăn.
Do đó, nếu xây dựng cơ chế cấp phó cho trường sau sắp xếp, cần tính đến ít nhất các yếu tố: số lớp, số học sinh, số người làm việc, số phân hiệu, số điểm trường, khoảng cách giữa các địa điểm, đặc điểm địa bàn, số cấp học, mô hình tổ chức và yêu cầu quản trị.
Từ thực tiễn tổ chức trường học sau sáp nhập, có thể nghiên cứu quy định theo hướng không cào bằng số lượng phó hiệu trưởng giữa các cơ sở giáo dục, mà kết hợp giữa quy mô và mức độ phân tán của trường. Theo đó, đối với trường mầm non và trường phổ thông chỉ có 1 địa điểm hoạt động, có thể quy định tối đa 2 phó hiệu trưởng; trường phổ thông có nhiều cấp học, quy mô từ 40 lớp trở lên có thể bố trí tối đa 3 phó hiệu trưởng. Đối với trường có từ 2 đến 3 phân hiệu, có thể cho phép bố trí tối đa 3 phó hiệu trưởng; từ 4 phân hiệu trở lên, tối đa 4 phó hiệu trưởng.
Cách tiếp cận này sẽ phù hợp hơn với thực tế sau sáp nhập: trường ít địa điểm thì tinh gọn, trường càng phân tán thì được tăng cường cán bộ quản lý, nhưng không áp dụng nguyên tắc mỗi phân hiệu một phó hiệu trưởng như cơ chế đặc thù của Nghị quyết 37. Chẳng hạn, trường có 1 trường chính và 8 phân hiệu không nhất thiết phải có 9 phó hiệu trưởng; có thể bố trí tối đa 4 phó hiệu trưởng, đồng thời phân công mỗi phó hiệu trưởng phụ trách một hoặc một số phân hiệu, kết hợp giao tổ trưởng, giáo viên hoặc nhân sự phù hợp làm đầu mối tại từng địa điểm. Đây là hướng vừa bảo đảm yêu cầu quản trị đối với trường có địa bàn rộng, vừa tránh bộ máy cấp phó quá lớn, đồng thời phù hợp nguyên tắc rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm và sử dụng hiệu quả nguồn lực công.
(*) Văn phong, nội dung bài viết thể hiện góc nhìn, quan điểm của tác giả.