Bổ sung nhiều trường hợp chưa xem xét, loại trừ, miễn trách nhiệm khi kỷ luật viên chức từ 01/7/2026

11/07/2026 07:12
Bùi Nam
Theo dõi trên Google News
0:00 / 0:00
0:00

GDVN - Nghị định 234/2026/NĐ-CP về xử lý kỷ luật viên chức, có hiệu lực từ ngày 01/7/2026, thay thế các quy định về xử lý kỷ luật viên chức trước đó.

Ngày 26/6/2026, Chính phủ ban hành Nghị định 234/2026/NĐ-CP về xử lý kỷ luật viên chức, có hiệu lực từ ngày 01/7/2026, thay thế các quy định về xử lý kỷ luật viên chức trước đó.

So với Nghị định 112/2020/NĐ-CP thì Nghị định Nghị định 234/2026/NĐ-CP về xử lý kỷ luật viên chức bổ sung nhiều trường hợp chưa xem xét kỷ luật, giảm nhẹ hoặc loại trừ trách nhiệm kỷ luật, miễn trách nhiệm kỷ luật, các tình tiết tăng nặng, các tình tiết giảm nhẹ mức kỷ luật theo hướng phù hợp thực tiễn vừa có tính răn đe vừa có tính nhân văn hơn.

anh-ky-luat-vien-chuc.jpg
Ảnh minh họa

Bổ sung nhiều trường hợp chưa xem xét xử lý kỷ luật từ 01/7/2026

Tại Điều 3 Nghị định 234/2026/NĐ-CP quy định cụ thể hơn về các trường hợp chưa xem xét xử lý kỷ luật như sau:

1. Viên chức đang trong thời gian điều trị bệnh hiểm nghèo hoặc đang mất khả năng nhận thức; bị ốm nặng đang điều trị nội trú tại bệnh viện có xác nhận của cơ quan y tế có thẩm quyền.

(So với Nghị định 112 đã bỏ quy định chưa xem xét kỷ luật đối với Cán bộ, công chức, viên chức đang trong thời gian nghỉ hàng năm, nghỉ theo chế độ, nghỉ việc riêng được cấp có thẩm quyền cho phép).

2. Viên chức là nữ giới đang trong thời gian mang thai, nghỉ thai sản, đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi hoặc viên chức là nam giới (trong trường hợp vợ chết hoặc vợ không thể nuôi con vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan theo quy định của Bộ luật Dân sự và pháp luật về tình trạng khẩn cấp) đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi, trừ trường hợp người có hành vi vi phạm có văn bản đề nghị xem xét xử lý kỷ luật.

(Quy định mới này bổ sung trường hợp nam giới (trong trường hợp vợ chết hoặc vợ không thể nuôi con vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan theo quy định của Bộ luật Dân sự và pháp luật về tình trạng khẩn cấp) đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi cũng thuộc trường hợp chưa xem xét xử lý kỷ luật ).

3. Viên chức đang bị khởi tố, tạm giữ, tạm giam chờ kết luận của cơ quan có thẩm quyền điều tra, truy tố, xét xử về hành vi vi phạm pháp luật, trừ trường hợp theo quyết định của cấp có thẩm quyền.

4. Các trường hợp chưa xem xét xử lý kỷ luật quy định tại Nghị quyết của Quốc hội về cơ chế, chính sách đặc thù để xử lý vi phạm pháp luật về đất đai của tổ chức, cá nhân xảy ra trước khi Luật Đất đai năm 2024 có hiệu lực và tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho các dự án tồn đọng, kéo dài.

5. Các trường hợp chưa xem xét kỷ luật khác theo quy định của pháp luật.

Bổ sung nhiều trường hợp được loại trừ trách nhiệm kỷ luật, miễn trách nhiệm kỷ luật, các tình tiết tăng nặng, các tình tiết giảm nhẹ mức kỷ luật

So với Nghị định 112/2020/NĐ-CP, tại Điều 4 Nghị định 234/2026/NĐ-CP đã bổ sung nhiều quy định cụ thể các trường hợp được loại trừ trách nhiệm kỷ luật, miễn trách nhiệm kỷ luật, các tình tiết tăng nặng, các tình tiết giảm nhẹ mức kỷ luật:

Trường hợp 1: Các trường hợp viên chức được loại trừ trách nhiệm kỷ luật

Viên chức có hành vi vi phạm thuộc một trong các trường hợp sau đây thì được loại trừ trách nhiệm kỷ luật:

a) Được cơ quan có thẩm quyền xác nhận tình trạng mất năng lực hành vi dân sự tại thời điểm thực hiện hành vi vi phạm;

b) Được cấp có thẩm quyền xác nhận vi phạm trong tình thế cấp thiết, do bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan theo quy định của Bộ luật Dân sự và pháp luật về tình trạng khẩn cấp trong thực hiện nhiệm vụ;

c) Các trường hợp được loại trừ trách nhiệm kỷ luật khác theo quy định của pháp luật.

Trường hợp 2: Các trường hợp được miễn trách nhiệm kỷ luật

Viên chức có hành vi vi phạm đến mức phải xem xét xử lý kỷ luật nhưng được miễn trách nhiệm kỷ luật trong các trường hợp sau đây:

a) Thực hiện đề xuất về nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ và đổi mới, sáng tạo đã được cơ quan có thẩm quyền cho phép và được cấp có thẩm quyền xác định đã thực hiện đúng chủ trương, không tham nhũng, không tiêu cực, không có hành vi gian lận, cố ý vi phạm pháp luật, có động cơ trong sáng, vì lợi ích chung nhưng có thiệt hại xảy ra;

b) Đã thực hiện đúng quy định về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, không vụ lợi trong quá trình thực hiện nhiệm vụ nhưng gây thiệt hại do nguyên nhân khách quan;

c) Có hành vi vi phạm đến mức bị xử lý kỷ luật nhưng đã qua đời;

d) Các trường hợp được miễn trách nhiệm kỷ luật quy định tại Nghị quyết của Quốc hội về cơ chế, chính sách đặc thù để xử lý vi phạm pháp luật về đất đai của tổ chức, cá nhân xảy ra trước khi Luật Đất đai năm 2024 có hiệu lực và tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho các dự án tồn đọng, kéo dài;

đ) Các trường hợp được miễn trách nhiệm kỷ luật khác theo quy định của pháp luật.

Trường hợp 3: Các trường hợp tăng nặng mức xử phạt

Trường hợp vi phạm có một hoặc một số tình tiết sau thì bị tăng nặng mức kỷ luật:

a) Đã được cơ quan, tổ chức, đơn vị yêu cầu kiểm điểm nhưng không thực hiện, không sửa chữa khuyết điểm, vi phạm; không tự giác nhận khuyết điểm, vi phạm, hình thức kỷ luật tương xứng với nội dung, tính chất, mức độ vi phạm; gây thiệt hại về vật chất phải bồi hoàn nhưng không bồi hoàn, không khắc phục hậu quả hoặc khắc phục không đúng yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền, không tự giác nộp lại tiền, tài sản do vi phạm mà có;

b) Đối phó, quanh co, cản trở quá trình kiểm tra, giám sát, thanh tra, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án. Bao che cho người vi phạm; đe dọa, trù dập, trả thù người đấu tranh, tố cáo, người làm chứng, người cung cấp tài liệu, chứng cứ vi phạm;

c) Vi phạm có tổ chức, là người chủ mưu; cung cấp thông tin, báo cáo sai sự thật; ngăn cản người khác cung cấp chứng cứ vi phạm; che giấu, sửa chữa, tiêu hủy chứng cứ, tạo lập tài liệu, hồ sơ, chứng cứ giả;

d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn, lợi dụng tình trạng khẩn cấp, thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh thực hiện chính sách an sinh xã hội và quốc phòng, an ninh để trục lợi. Ép buộc, vận động, tổ chức, tiếp tay cho người khác cùng vi phạm.

Trường hợp 4: Các trường hợp được giảm nhẹ mức kỷ luật

Trường hợp vi phạm có một hoặc một số tình tiết sau thì được giảm nhẹ mức kỷ luật:

a) Chủ động, kịp thời báo cáo vi phạm, tự giác nhận trách nhiệm cá nhân về khuyết điểm, vi phạm và tự nhận hình thức kỷ luật tương xứng với nội dung, tính chất, mức độ vi phạm trước và trong quá trình kiểm tra, giám sát;

b) Chủ động cung cấp thông tin, hồ sơ, tài liệu, phản ánh đầy đủ, trung thực về những người cùng vi phạm;

c) Chủ động chấm dứt hành vi vi phạm, tích cực tham gia ngăn chặn hành vi vi phạm; tự giác nộp tài sản tham nhũng, bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả do mình gây ra;

d) Các trường hợp được giảm nhẹ mức kỷ luật quy định tại Nghị quyết của Quốc hội về cơ chế, chính sách đặc thù để xử lý vi phạm pháp luật về đất đai của tổ chức, cá nhân xảy ra trước khi Luật Đất đai năm 2024 có hiệu lực và tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho các dự án tồn đọng, kéo dài;

đ) Các trường hợp được giảm nhẹ khác theo quy định của pháp luật.

Nhìn chung, những sửa đổi, bổ sung tại Nghị định 234/2026/NĐ-CP là bước hoàn thiện quan trọng trong hệ thống pháp luật về quản lý viên chức. Các quy định mới vừa tăng cường tính nghiêm minh đối với các hành vi vi phạm, vừa bảo đảm sự công bằng, minh bạch và nhân văn trong xử lý kỷ luật. Đây được kỳ vọng sẽ góp phần xây dựng đội ngũ viên chức có trách nhiệm, liêm chính, đồng thời tạo tâm lý yên tâm công tác cho những người thực hiện đúng chức trách, nhiệm vụ.

Việc bổ sung các trường hợp chưa xem xét kỷ luật, miễn trách nhiệm, loại trừ trách nhiệm cùng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ cho thấy quy định về xử lý kỷ luật viên chức ngày càng được hoàn thiện theo hướng toàn diện và sát thực tiễn. Điều này không chỉ góp phần nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước mà còn bảo đảm nguyên tắc công bằng, khách quan, tránh tình trạng "cào bằng" trong xử lý kỷ luật, qua đó tạo động lực để viên chức yên tâm cống hiến và hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.

Xem toàn văn Nghị định 234/2026/NĐ-CP TẠI ĐÂY

(*) Văn phong, nội dung bài viết thể hiện góc nhìn của tác giả.

Bùi Nam