Trường đại học cần trở thành "bệ phóng" để hình thành doanh nghiệp công nghệ chiến lược quy mô lớn

02/07/2026 06:22
Khánh Hòa
Theo dõi trên Google News
0:00 / 0:00
0:00

GDVN - Theo các chuyên gia, để hiện thực hóa mục tiêu hình thành doanh nghiệp công nghệ chiến lược quy mô lớn, Việt Nam cần xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo đồng bộ, gắn kết nghiên cứu, đào tạo và doanh nghiệp.

Phó Thủ tướng Chính phủ Hồ Quốc Dũng đã ký Quyết định số 1091/QĐ-TTg phê duyệt Đề án hình thành các doanh nghiệp công nghệ chiến lược quy mô lớn trong nước để phát triển hạ tầng số, nhân lực số, dữ liệu số, công nghệ chiến lược, an ninh mạng giai đoạn 2026-2030. Theo đó, mục tiêu đến năm 2030 là hình thành tối thiểu 10 doanh nghiệp công nghệ chiến lược quy mô lớn, tổng doanh thu của năm đạt từ 1 tỷ USD trở lên.

Các doanh nghiệp công nghệ chiến lược quy mô lớn góp phần phát triển nhân lực số quy mô lớn, chất lượng cao, đạt chuẩn kỹ năng quốc tế ở các lĩnh vực trọng điểm, thông qua phương thức đào tạo lại, đào tạo nâng cao theo mô hình kết hợp giữa "Nhà nước - Nhà trường - Doanh nghiệp".

Theo lãnh đạo một số viện nghiên cứu, cơ sở giáo dục đại học và doanh nghiệp, Việt Nam có nhiều điều kiện thuận lợi để hiện thực hóa mục tiêu này. Tuy nhiên, để biến tiềm lực nghiên cứu thành năng lực cạnh tranh, cần đồng thời tháo gỡ các điểm nghẽn về công nghệ lõi, nguồn nhân lực và hoàn thiện hệ sinh thái đổi mới sáng tạo.

Làm chủ công nghệ lõi tạo nền tảng cho doanh nghiệp công nghệ Việt bứt phá

Trao đổi với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Trần Quang Huy - Phó Viện trưởng, Viện Nghiên cứu Nano, Đại học Phenikaa cho rằng, Việt Nam đang đứng trước cơ hội lớn để bứt phá về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, đồng thời có đủ nền tảng để hiện thực hóa các mục tiêu của Đề án.

Những năm gần đây, năng lực nghiên cứu của Việt Nam đã có bước phát triển rõ rệt. Năm 2025, Việt Nam xếp thứ 44/139 quốc gia trên bảng xếp hạng Chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu (GII) của WIPO và là một trong những quốc gia có mức cải thiện thứ hạng nhanh nhất trong nhóm nước thu nhập trung bình kể từ năm 2013. Số lượng công bố quốc tế của các nhà khoa học Việt Nam đạt khoảng 20.000 bài báo WoS/Scopus mỗi năm. Đặc biệt, năm 2025 có 1.108 bằng sáng chế được cấp cho các chủ sở hữu Việt Nam, tăng khoảng 36% so với năm trước. Điều này cho thấy hoạt động nghiên cứu đang từng bước chuyển hóa thành tài sản trí tuệ và công nghệ có giá trị.

Bên cạnh đó, nhiều nhóm nghiên cứu mạnh đang được định hình tại các trường đại học và viện nghiên cứu trong những lĩnh vực chiến lược như khoa học vật liệu, trí tuệ nhân tạo, bán dẫn, công nghệ sinh học hay khoa học dữ liệu. Ngoài ra, Việt Nam có lợi thế lớn từ mạng lưới nhà khoa học người Việt ở nước ngoài, trong đó, nhiều người đang giữ vị trí quan trọng tại các trường đại học, viện nghiên cứu và tập đoàn công nghệ hàng đầu thế giới. Đây là nguồn lực quý giá để thúc đẩy quá trình làm chủ công nghệ và hội nhập quốc tế.

"Việt Nam hiện nay không thiếu tiềm năng nghiên cứu, điều quan trọng nhất là chuyển hóa tiềm năng đó thành năng lực làm chủ công nghệ và năng lực cạnh tranh toàn cầu. Với sự ra đời của các chính sách lớn như Nghị quyết 57-NQ/TW, Nghị quyết 193/2025/QH15, Quyết định 1091/QĐ-TTg, tôi hy vọng Việt Nam có thể hình thành được các doanh nghiệp công nghệ chiến lược, từng bước làm chủ các công nghệ nền tảng và nâng cao vị thế trên bản đồ công nghệ thế giới", thầy Huy bày tỏ.

thay-huy.jpg
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Trần Quang Huy - Phó Viện trưởng, Viện Nghiên cứu Nano, Đại học Phenikaa. Ảnh: NVCC.

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Trần Quang Huy cho rằng, viện nghiên cứu phải đóng vai trò là nơi tạo ra công nghệ lõi, đào tạo nhân lực chất lượng cao và kết nối tri thức với thị trường. Đây là nền tảng để hình thành các doanh nghiệp công nghệ chiến lược quy mô lớn.

Thực tế cho thấy, không có quốc gia nào xây dựng được tập đoàn công nghệ hàng đầu nếu thiếu một hệ sinh thái nghiên cứu mạnh phía sau. Tuy nhiên, giá trị thực sự của nghiên cứu không nằm ở số lượng bài báo hay bằng sáng chế, mà ở khả năng chuyển hóa thành công nghệ, sản phẩm và doanh nghiệp. Vì vậy, viện nghiên cứu phải đồng hành cùng doanh nghiệp ngay từ giai đoạn phát triển công nghệ, chuyển từ mô hình "nghiên cứu để công bố" sang "nghiên cứu để đổi mới sáng tạo và thương mại hóa".

Nếu doanh nghiệp công nghệ chiến lược được coi là đầu tàu của nền kinh tế tri thức, viện nghiên cứu phải là nơi tạo ra động cơ và nguồn nhiên liệu tri thức để những đầu tàu đó có thể cạnh tranh trên thị trường toàn cầu.

Tại nhiều đại học nghiên cứu trên thế giới, nguồn thu từ chuyển giao công nghệ và doanh nghiệp spin-off đã trở thành một chỉ số quan trọng để đánh giá chất lượng nghiên cứu. Đây cũng là xu hướng nhiều trường đại học Việt Nam đang theo đuổi: lấy nghiên cứu xuất sắc làm nền tảng, nhưng mục tiêu cuối cùng là tạo ra công nghệ, doanh nghiệp và giá trị cho xã hội.

Cùng bàn về vấn đề này, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Hữu Hiếu - Hiệu trưởng Trường Đại học Bách khoa, Đại học Đà Nẵng cho rằng, việc thành lập và vận hành một doanh nghiệp thông thường đòi hỏi khá nhiều thủ tục, nguồn lực và năng lực quản trị. Đối với doanh nghiệp công nghệ chiến lược có doanh thu từ 1 tỷ USD trở lên, yêu cầu này cao hơn rất nhiều. Vì vậy, doanh nghiệp này cần được phát triển trong một hệ sinh thái chính sách đặc thù, mang tính "bứt phá" thay vì chỉ dựa vào các điều chỉnh mang tính hành chính.

Điều kiện để hình thành và phát triển doanh nghiệp quy mô lớn không thể tồn tại tách rời, mà phải được đặt trong một tổng thể đồng bộ gồm: thể chế mở và linh hoạt, khả năng huy động vốn lớn và dài hạn, hạ tầng số và dữ liệu đầy đủ, nguồn nhân lực chất lượng cao, cùng thị trường đủ rộng và có khả năng cạnh tranh quốc tế. Đây là những trụ cột có quan hệ hữu cơ, bổ trợ lẫn nhau, trong đó bất kỳ điểm nghẽn nào cũng có thể làm suy giảm toàn bộ động lực tăng trưởng.

Nếu thiếu một trong các yếu tố nêu trên, đặc biệt là thể chế và thị trường, mục tiêu hình thành 10 doanh nghiệp công nghệ đạt quy mô tỷ USD rất dễ chỉ dừng lại ở mức định hướng chính sách, thay vì trở thành kết quả phát triển thực chất và bền vững.

thay-hieu-3.jpg
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Hữu Hiếu - Hiệu trưởng Trường Đại học Bách khoa, Đại học Đà Nẵng. Ảnh: NVCC.

Theo Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Hữu Hiếu, để hình thành doanh nghiệp công nghệ chiến lược có quy mô lớn, điều kiện tiên quyết là phải làm chủ được công nghệ lõi. Muốn vậy, trường đại học phải trở thành nơi tạo ra tri thức mới, công nghệ mới và nguồn nhân lực chất lượng cao. Nói cách khác, nếu doanh nghiệp là động lực tăng trưởng, trường đại học chính là "nguồn cung" về công nghệ và nhân lực cho sự tăng trưởng đó.

Mặc dù, chất lượng nguồn nhân lực Việt Nam trong những năm gần đây đã có những chuyển biến tích cực. Lực lượng lao động trẻ được đào tạo bài bản hơn, có khả năng tiếp cận nhanh với công nghệ mới, kỹ năng số và khả năng thích ứng với môi trường làm việc hiện đại. Tuy nhiên, nếu đặt trong mục tiêu hình thành các doanh nghiệp công nghệ chiến lược quy mô lớn, nguồn nhân lực này vẫn là một số điểm nghẽn cần sớm tháo gỡ.

Thực tế cho thấy, cơ cấu và chất lượng nguồn nhân lực chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu của nền kinh tế dựa trên đổi mới sáng tạo trong các lĩnh vực công nghệ mũi nhọn như trí tuệ nhân tạo (AI), bán dẫn, thiết kế chip, dữ liệu lớn (Big Data), điện toán đám mây, an ninh mạng hay công nghệ lượng tử. Việt Nam đang thiếu đội ngũ chuyên gia đầu ngành, kỹ sư trình độ cao và các nhà nghiên cứu có khả năng làm chủ công nghệ lõi.

Điểm hạn chế lớn không chỉ nằm ở trình độ chuyên môn mà còn ở kinh nghiệm thực chiến. Phần lớn nhân lực trong các lĩnh vực công nghệ chiến lược còn trẻ, chưa có nhiều cơ hội tham gia vào dự án quy mô lớn, các chương trình nghiên cứu - phát triển (R&D) mang tầm quốc tế hoặc các sản phẩm có sức cạnh tranh toàn cầu. Do đó, mặc dù có nền tảng kiến thức tốt và khả năng tiếp thu nhanh, việc tham gia ngay vào quản trị, vận hành và phát triển doanh nghiệp công nghệ chiến lược doanh thu hàng tỷ USD sẽ gặp không ít khó khăn.

Tháo gỡ ba điểm nghẽn để hình thành doanh nghiệp công nghệ chiến lược

Dưới góc nhìn của doanh nghiệp, ông Bùi Văn Thịnh - Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Phong điện Thuận Bình (tỉnh Lâm Đồng), Chủ tịch Hiệp hội Điện gió và Mặt trời Lâm Đồng chia sẻ, mục tiêu hình thành tối thiểu 10 doanh nghiệp công nghệ chiến lược có doanh thu từ 1 tỷ USD trở lên thể hiện khát vọng phát triển lớn của Việt Nam. Tuy nhiên, để biến mục tiêu này thành hiện thực cần sự đồng bộ về chính sách, từ định hướng của Trung ương, nguồn lực hỗ trợ của địa phương đến nỗ lực của cộng đồng doanh nghiệp. Khi có khát vọng lớn, quyết sách đúng và sự đồng lòng từ Trung ương đến địa phương, từ doanh nghiệp đến người dân, Việt Nam hoàn toàn có thể tạo nên những bước đột phá.

Theo ông Thịnh, rào cản lớn nhất của doanh nghiệp Việt Nam hiện nay là "chưa dám nghĩ lớn". Yếu tố khởi đầu cho mọi bước phát triển nằm ở khát vọng, nếu doanh nghiệp chưa mạnh dạn đặt ra những mục tiêu đủ lớn và tin vào năng lực của doanh nghiệp sẽ khó tạo ra đột phá. Vì vậy, bên cạnh sự hỗ trợ về nguồn lực, cơ chế, doanh nghiệp cần thay đổi trong tư duy, dám nghĩ, dám làm và dám theo đuổi khát vọng lớn.

Ngoài ra, để chuẩn bị nguồn nhân lực cho mục tiêu này, các trường đại học cần xây dựng chương trình đào tạo xuất phát từ nhu cầu thực tế của thị trường và định hướng phát triển của doanh nghiệp. Nhà trường có thể điều chỉnh quy mô, nội dung và phương thức đào tạo phù hợp với yêu cầu của doanh nghiệp. Việc gắn kết chặt chẽ giữa hai bên sẽ góp phần thu hẹp khoảng cách giữa đào tạo và nhu cầu sử dụng lao động, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phục vụ các ngành công nghệ chiến lược.

Thực tế, nhiều doanh nghiệp công nghệ lớn của Việt Nam đã từng bước khẳng định vị thế trên thị trường quốc tế, cho thấy doanh nghiệp Việt hoàn toàn có đủ năng lực để cạnh tranh nếu có chiến lược phát triển phù hợp. Đây cũng là cơ sở để tin tưởng rằng, với tầm nhìn dài hạn, quyết sách đúng và môi trường thuận lợi, Việt Nam có thể hiện thực hóa mục tiêu xây dựng các doanh nghiệp công nghệ chiến lược quy mô lớn.

ong-thinh.jpg
Ông Bùi Văn Thịnh - Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Phong điện Thuận Bình (tỉnh Lâm Đồng), Chủ tịch Hiệp hội Điện gió và Mặt trời Lâm Đồng. Ảnh: NVCC.

Trong khi đó, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Hữu Hiếu cho rằng, mô hình liên kết "Nhà nước - nhà trường - doanh nghiệp" là một cấu trúc quan trọng để phát triển nguồn nhân lực và hệ sinh thái công nghệ quốc gia. Trong đó, nhà trường không nên chỉ được nhìn như nơi cung cấp lao động, mà cần được xác định là trung tâm tri thức, nghiên cứu và đổi mới sáng tạo, có vai trò kết nối giữa chính sách của Nhà nước với nhu cầu công nghệ của doanh nghiệp.

Hiện nay ở Việt Nam, vai trò này đã được đặt ra nhưng chưa thực sự thể hiện rõ nét trong việc tạo dựng "bệ phóng công nghệ" cho doanh nghiệp chiến lược. Nhiều trường đại học chủ yếu tập trung vào đào tạo, trong khi hoạt động nghiên cứu, chuyển giao công nghệ và hình thành các doanh nghiệp khởi nguồn từ trường đại học còn hạn chế.

Muốn nhà trường thực sự trở thành bệ phóng cho doanh nghiệp công nghệ chiến lược, cần thay đổi ở ba điểm cốt lõi.

Đầu tiên cần giảm gánh nặng giảng dạy và hành chính cho giảng viên. Nhiều giảng viên đại học công lập có khối lượng giờ giảng cao và tham gia nhiều công việc hành chính. Điều này làm giảm đáng kể thời gian dành cho nghiên cứu và hợp tác với doanh nghiệp.

Tiếp đó, cần tăng đầu tư cho nghiên cứu và các nhóm nghiên cứu mạnh. Kinh phí nghiên cứu của giảng viên còn thấp, cơ chế tài trợ chưa đủ mạnh để hình thành phòng thí nghiệm và nhóm nghiên cứu có năng lực cạnh tranh quốc tế. Nếu không có các nhóm nghiên cứu mạnh, rất khó tạo ra công nghệ lõi và sản phẩm có khả năng thương mại hóa.

Cuối cùng, cần gắn nghiên cứu với nhu cầu doanh nghiệp. Nhà trường cần tham gia từ khâu nghiên cứu, thử nghiệm đến chuyển giao công nghệ; đồng thời tạo điều kiện để sinh viên, học viên và nghiên cứu sinh tham gia vào dự án thực tế của doanh nghiệp ngay trong quá trình đào tạo.

"Tôi cho rằng, trong mô hình “Nhà nước - nhà trường - doanh nghiệp”, nhà trường phải giữ vị trí trung tâm kết nối và sáng tạo tri thức. Khi được trao đủ quyền tự chủ, nguồn lực nghiên cứu và cơ chế hợp tác với doanh nghiệp, trường đại học không chỉ cung cấp nhân lực, mà còn có thể tạo ra công nghệ, doanh nghiệp spin-off và các hệ sinh thái đổi mới sáng tạo. Đấy mới là nền tảng bền vững để Việt Nam hình thành doanh nghiệp công nghệ chiến lược quy mô lớn trong giai đoạn tới", thầy Hiếu bày tỏ.

minh-hoa-2.jpg
Phòng Thí nghiệm trọng điểm Quốc gia dùng chung Cơ điện tử và Ứng dụng tại Trường đại học Bách khoa, Đại học Đà Nẵng. Ảnh website nhà trường.

Theo Phó Viện trưởng, Viện Nghiên cứu Nano, Đại học Phenikaa, để hình thành các doanh nghiệp công nghệ chiến lược có khả năng cạnh tranh quốc tế, điều quan trọng nhất là phải xây dựng được một hệ sinh thái đổi mới sáng tạo mà trong đó Nhà nước, viện nghiên cứu và doanh nghiệp cùng tham gia, cùng đầu tư và cùng hưởng lợi từ kết quả nghiên cứu.

Hiện nay, nhiều nghiên cứu trong nước vẫn thiên về nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu định hướng ứng dụng hoặc cải tiến công nghệ, trong khi năng lực làm chủ các công nghệ lõi còn hạn chế. Đây vừa là thách thức, vừa là động lực để Việt Nam đầu tư mạnh hơn cho R&D, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao và nâng cao năng lực công nghệ quốc gia. Trong thời gian tới cần có ba đột phá quan trọng như sau:

Thứ nhất, chuyển từ cơ chế cấp kinh phí nghiên cứu sang cơ chế đặt hàng theo nhu cầu thị trường và kết quả đầu ra, chấp nhận rủi ro trong nghiên cứu và đổi mới sáng tạo.

Thứ hai, doanh nghiệp phải tham gia ngay từ giai đoạn xác định bài toán công nghệ để bảo đảm khả năng thương mại hóa.

Thứ ba, cần phát triển các quỹ đầu tư công nghệ, quỹ đầu tư mạo hiểm và hệ thống trung tâm chuyển giao công nghệ nhằm giúp các kết quả nghiên cứu vượt qua "thung lũng tử thần" giữa phòng thí nghiệm và thị trường.

Khánh Hòa