Từ năm học 2026–2027, quy định về hồ sơ giáo viên có bước thay đổi đáng chú ý khi Thông tư 15/2026/TT-BGDĐT quy định giáo viên về cơ bản chỉ còn thực hiện Kế hoạch bài dạy (giáo án); giáo viên chủ nhiệm có thêm Sổ chủ nhiệm và Tổng phụ trách Đội có Sổ công tác Đội. Trong khi đó, Công văn 5512/BGDĐT-GDTrH năm 2020 vẫn được nhiều trường sử dụng với 4 phụ lục 1,2,3,4 quen thuộc. Vậy 4 phụ lục này do ai xây dựng, giáo viên còn phải thực hiện Phụ lục 3 hay không và cần hiểu thế nào để tránh tình trạng vừa làm hồ sơ thừa, vừa lo thiếu hồ sơ?
Theo Công văn 5512, 4 phụ lục 1, 2, 3, 4 do ai thực hiện?
Công văn số 5512/BGDĐT-GDTrH ngày 18/12/2020 của Bộ Giáo dục và Đào tạo được ban hành nhằm hướng dẫn xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch giáo dục của trường trung học cơ sở, trung học phổ thông và trường phổ thông có nhiều cấp học. Công văn này được xây dựng trên cơ sở Thông tư 32/2020/TT-BGDĐT và đưa ra các khung kế hoạch tương ứng với từng chủ thể trong nhà trường.
Điểm quan trọng cần phân biệt là 4 phụ lục của Công văn 5512 không phải đều là hồ sơ cá nhân của giáo viên. Mỗi phụ lục gắn với một chủ thể, một cấp độ lập kế hoạch khác nhau.
Phụ lục 1: Khung kế hoạch dạy học môn học của tổ chuyên môn
Theo Công văn 5512, căn cứ kế hoạch thời gian thực hiện chương trình, tổ chuyên môn xây dựng kế hoạch giáo dục của tổ, trong đó có kế hoạch dạy học các môn học theo khung tại Phụ lục 1.
Như vậy, xét đúng theo chủ thể thực hiện, Phụ lục 1 thuộc trách nhiệm của tổ chuyên môn, không phải mỗi giáo viên tự lập một Phụ lục 1 riêng.
Nội dung của phụ lục này nhằm thể hiện cách tổ chuyên môn tổ chức thực hiện chương trình môn học trong năm học, như các bài học/chủ đề, số tiết, thời điểm thực hiện, thiết bị dạy học, địa điểm dạy học và những nội dung liên quan.
Phụ lục 2: Khung kế hoạch tổ chức các hoạt động giáo dục của tổ chuyên môn
Công văn 5512 quy định tổ chuyên môn xây dựng kế hoạch tổ chức các hoạt động giáo dục theo khung tại Phụ lục 2. Đối với từng hoạt động, còn có thể phải xây dựng kế hoạch cụ thể về mục đích, yêu cầu, nội dung, hình thức, thời gian, địa điểm, nguồn lực và tiêu chí đánh giá.
Do đó, Phụ lục 2 cũng thuộc về cấp tổ chuyên môn, không phải là một loại hồ sơ cá nhân mà từng giáo viên phải tự lập độc lập.
Phụ lục 3: Khung kế hoạch giáo dục của giáo viên
Theo Công văn 5512, căn cứ vào kế hoạch dạy học các môn học của tổ chuyên môn, giáo viên được phân công dạy học môn học ở các khối lớp xây dựng Kế hoạch giáo dục của giáo viên trong năm học theo Phụ lục 3. Trên cơ sở đó, giáo viên tiếp tục xây dựng kế hoạch bài dạy theo Phụ lục 4.
Phụ lục 4: Khung kế hoạch bài dạy (giáo án)
Theo Công văn 5512, trên cơ sở kế hoạch giáo dục của giáo viên, giáo viên xây dựng kế hoạch bài dạy để tổ chức hoạt động dạy học. Phụ lục 4 quy định khung kế hoạch bài dạy với các nội dung như tên bài dạy, môn học, thời gian thực hiện, mục tiêu, thiết bị dạy học, tiến trình tổ chức hoạt động dạy học và các nội dung liên quan.
Như vậy, Phụ lục 4 cũng do giáo viên thực hiện, nhưng bản chất của nó chính là Kế hoạch bài dạy (giáo án).
Tóm lại, theo Công văn 5512, tổ chuyên môn thực hiện phụ lục 1,2, giáo viên thực hiện phụ lục 3 (Kế hoạch giáo dục) và phụ lục 4 (Kế hoạch bài dạy hay còn gọi là giáo án)
Theo Thông tư 15/2026/TT-BGDĐT, hồ sơ giáo viên chỉ còn Kế hoạch bài dạy
Một thay đổi rất đáng chú ý được áp dụng trong năm học 2026–2027 tại khoản 2 Điều 21 Điều lệ trường tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông và trường phổ thông có nhiều cấp học ban hành kèm theo Thông tư 15/2026/TT-BGDĐT.
Theo đó, hồ sơ đối với giáo viên gồm:
Kế hoạch bài dạy (giáo án);
Sổ chủ nhiệm, đối với giáo viên làm công tác chủ nhiệm lớp;
Sổ công tác Đội, đối với Tổng phụ trách Đội.
Như vậy, đối với giáo viên bộ môn không làm công tác chủ nhiệm và không phải Tổng phụ trách Đội, danh mục hồ sơ bắt buộc chỉ còn Kế hoạch bài dạy (giáo án).
Đây là sự tinh giản rất rõ so với quy định trước đây. Theo quy định cũ, hồ sơ giáo viên còn có Kế hoạch giáo dục của giáo viên theo năm học và Sổ theo dõi, đánh giá học sinh, bên cạnh Kế hoạch bài dạy và Sổ chủ nhiệm nếu có.
Phụ lục 3 vốn là Khung kế hoạch giáo dục của giáo viên. Trong khi đó, Thông tư 15/2026/TT-BGDĐT không còn đưa “Kế hoạch giáo dục của giáo viên” vào danh mục hồ sơ giáo viên.
Đặc biệt, ngày 03/9/2026, Bộ Giáo dục và Đào tạo tiếp tục ban hành Công văn 5922/BGDĐT-GDPT về cắt giảm các cuộc thi, hồ sơ, sổ sách, hội họp và báo cáo trung gian. Văn bản yêu cầu thực hiện đúng, đủ hồ sơ theo quy định của cơ quan có thẩm quyền và không tự đặt ra, không yêu cầu giáo viên thực hiện thêm hồ sơ, sổ sách, biểu mẫu, báo cáo, minh chứng nếu không có căn cứ pháp lý hoặc không thực sự cần thiết.
Đây là một căn cứ rất đáng chú ý để các nhà trường tổ chức lại cách quản lý hồ sơ trong năm học mới.
Đồng Tháp tiên phong tích hợp hồ sơ, sổ sách, giáo viên chỉ còn thực hiện kế hoạch bài dạy theo đúng Thông tư 15/2026
Thông tư 15/2026/TT-BGDĐT không còn đưa “Kế hoạch giáo dục của giáo viên” vào danh mục hồ sơ giáo viên.
Tuy nhiên, Công văn 5512 vẫn còn có hiệu lực, một số nơi giáo viên vẫn phải thực hiện phụ lục 3 Công văn này.
Người viết là giáo viên đang công tác trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp, nhận thấy cách triển khai của Sở Giáo dục và Đào tạo Đồng Tháp rất kịp thời và phù hợp, vẫn đảm bảo các yêu cầu của phụ lục Công văn 5512 và vẫn đảm bảo giáo viên vẫn thực hiện đúng quy định của Thông tư 15/2026/TT-BGDĐT.
Ngày 24/8/2026, Sở Giáo dục và Đào tạo Đồng Tháp ban hành Công văn 3284/SGDĐT-GDPT về hướng dẫn xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch giáo dục của nhà trường cấp trung học được ban hành trên cơ sở Thông tư 15/2026/TT-BGDĐT ngày 24/3/2026 và các nội dung của Công văn 5512/BGDĐT-GDTrH ngày 18/12/2020.
Theo Công văn 3284, Hiệu trưởng tổ chức xây dựng và ban hành kế hoạch thời gian thực hiện chương trình của từng môn học, hoạt động giáo dục và nội dung giáo dục địa phương, bảo đảm tổng số tiết/năm học theo chương trình. Nhà trường được chủ động bố trí thời gian thực hiện chương trình một cách khoa học, sư phạm, không gây áp lực đối với học sinh và giáo viên.
Ở cấp tổ chuyên môn, Công văn 3284 quy định các tổ chuyên môn căn cứ kế hoạch thời gian thực hiện chương trình đã được phê duyệt để xây dựng Kế hoạch giáo dục của tổ chuyên môn, bao gồm kế hoạch dạy học các môn học và kế hoạch tổ chức các hoạt động giáo dục theo Phụ lục I (gọi là phụ lục 1 của Công văn 3284).
Phụ lục 1 này tích hợp đầy đủ thông tin của phụ lục 1,2,3 của Công văn 5512 của Bộ Giáo dục và Đào tạo
Đối với giáo viên, Công văn 3284 quy định rất rõ: căn cứ Kế hoạch giáo dục của tổ chuyên môn đã được phê duyệt và nhiệm vụ được phân công, giáo viên xây dựng Kế hoạch bài dạy theo Phụ lục II để tổ chức thực hiện hoạt động dạy học.
Như vậy, giáo viên chỉ cần thực hiện kế hoạch bài dạy (giáo án) theo phụ lục 2 Công văn 3284 đảm bảo đúng quy định của Thông tư 15/2026/TT-BGDĐT.
Tóm lại, theo Công văn 3284, tổ chuyên môn thực hiện phụ lục 1 và giáo viên thực hiện phụ lục 2 theo Công văn này.
Đặc biệt, Công văn 3284 còn cho phép các cơ sở giáo dục trung học cơ sở, trung học phổ thông đang sử dụng Kế hoạch giáo dục của tổ chuyên môn và Kế hoạch bài dạy theo hướng dẫn tại Công văn 5512, nếu phù hợp với quy định hiện hành thì tiếp tục thực hiện, không phải điều chỉnh, thay đổi.
Thông tư 15/2026/TT-BGDĐT quy định danh mục hồ sơ giáo viên. Công văn 5922/BGDĐT-GDPT ngày 03/9/2026 lại tiếp tục yêu cầu các cơ sở giáo dục không đặt ra hồ sơ, sổ sách, biểu mẫu, báo cáo, minh chứng không có căn cứ pháp lý hoặc không thực sự cần thiết.
Vì vậy, người viết cho rằng, nếu địa phương chưa ban hành các quy định thì Ban giám hiệu, tổ trưởng chuyên môn cần rà soát lại toàn bộ hồ sơ đang yêu cầu giáo viên thực hiện, nghiên cứu để điều chỉnh các danh mục hồ sơ theo quy định.
Nếu một loại hồ sơ đã không còn nằm trong danh mục hồ sơ giáo viên theo Thông tư 15 thì không nên biến nó thành hồ sơ bắt buộc cá nhân bằng một mệnh lệnh hành chính nội bộ.
Trong trường hợp nhà trường vẫn cần một bảng kế hoạch để phục vụ quản lý chuyên môn, có thể tổ chức thực hiện ở cấp tổ chuyên môn hoặc hệ thống quản lý chung, tránh tình trạng mỗi giáo viên phải lập một bảng giống nhau rồi tổ trưởng lại tổng hợp một lần nữa.
Tài liệu tham khảo: Công văn 3284 của Sở GDĐT Đồng Tháp
(*) Văn phong, nội dung bài viết thể hiện góc nhìn, quan điểm của tác giả.