Đại học Việt Nam trước một thay đổi lớn: Mở không gian đào tạo, siết trách nhiệm chất lượng

22/09/2026 09:12
PGS.TS Nguyễn Thanh Tùng - Hiệu trưởng Trường Đại học CMC
Theo dõi trên Google News
0:00 / 0:00
0:00

GDVN -Ngày 17/9/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 361/2026/NĐ-CP quy định về điều kiện đầu tư và hoạt động trong giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học và kiểm định chất lượng giáo dục.

Một chương trình đào tạo muốn đến với người học ở địa phương khác lâu nay thường kéo theo bài toán lớn về địa điểm, cơ sở vật chất và tổ chức bộ máy. Nghị định số 361/2026/NĐ-CP đã bổ sung một phương án linh hoạt hơn. Với người học, điều đáng quan tâm không phải địa điểm đó được gọi là gì, mà là có được tiếp cận chương trình phù hợp hơn mà vẫn được bảo đảm cùng chuẩn đào tạo, cùng trách nhiệm học thuật và cùng giá trị văn bằng hay không.

thay-tung.jpg
PGS.TS Nguyễn Thanh Tùng - Hiệu trưởng Trường Đại học CMC

Mở rộng đào tạo, không mở rộng bộ máy

Ngày 17/9/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 361/2026/NĐ-CP quy định về điều kiện đầu tư và hoạt động trong giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học và kiểm định chất lượng giáo dục. Trong nhiều nội dung của văn bản, Điều 29 được các trường đại học đặc biệt quan tâm vì quy định tiêu chuẩn, tiêu chí, điều kiện bảo đảm chất lượng đối với địa điểm đào tạo khác của cơ sở giáo dục đại học. Đây là bước hoàn thiện khung pháp lý cần thiết để đưa quy định về địa điểm đào tạo khác đã được ghi nhận tại Luật số 125/2025/QH15 đi vào triển khai thực tế.

Đặt trong tinh thần Nghị quyết số 71-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo, thay đổi này có ý nghĩa rộng hơn một thủ tục mới. Nghị quyết 71 nhấn mạnh đổi mới thể chế, tăng tự chủ gắn với tự chịu trách nhiệm, huy động nguồn lực xã hội và chuyển mạnh từ quản lý hành chính sang kiến tạo phát triển. Đồng thời, sự thay đổi này đảm bảo tính đồng bộ trong việc triển khai các cơ chế, chính sách ưu đãi đầu tư đặc thù, vượt trội theo Nghị quyết số 248/2025/QH15. Qua đó, Điều 29 có thể xem là một bước cụ thể hóa các tinh thần đó trong tổ chức hoạt động giáo dục đại học.

Trong phương thức tổ chức truyền thống, việc mở rộng đào tạo tại địa phương khác đòi hỏi cơ sở giáo dục đại học phải tập trung thời gian và nguồn lực và để đầu tư hạ tầng đồng bộ. Quá trình này gắn liền với yêu cầu hoàn thiện các thủ tục pháp lý về quy hoạch, đầu tư, đất đai và xây dựng để thành lập phân hiệu cũng như xin cấp phép hoạt động cho phân hiệu. Mặc dù cách làm này phù hợp với mục tiêu, chiến lược phát triển dài hạn, nhưng chưa hẳn phù hợp với một chương trình cần triển khai nhằm đáp ứng nhu cầu nhân lực của từng địa phương hoặc đòi hỏi không gian học tập gắn liền với hệ sinh thái doanh nghiệp và hạ tầng chuyên ngành.

Chẳng hạn, thay vì chờ một phân hiệu hoàn chỉnh, sinh viên có thể học một số học phần tại địa điểm gần doanh nghiệp, phòng thí nghiệm hoặc trung tâm công nghệ phù hợp. Nhưng dù học ở đâu, chương trình, giảng viên, kiểm tra, đánh giá và văn bằng vẫn phải do trường đại học chịu trách nhiệm. Chính điểm này quyết định cơ chế mới có thực sự mang lại lợi ích cho người học hay không.

Điều 29 Nghị định số 361/2026/NĐ-CP cho phép trường tổ chức một phần hoặc toàn bộ chương trình đã được cấp phép tại địa điểm thuộc sở hữu, thuộc quyền sử dụng hợp pháp hoặc tại địa điểm đào tạo thực hành do trường quản lý toàn diện, trực tiếp. Quy định này đưa thêm một phương án vào bàn quyết định của lãnh đạo trường: đầu tư sở hữu, thuê ổn định hay hợp tác sử dụng hạ tầng sẵn có.

Quyền lựa chọn được giới hạn bằng các điều kiện rõ ràng. Theo khoản 1 Điều 29 Nghị định số 361/2026/NĐ-CP, quyền sử dụng hợp pháp đối với đất hoặc cơ sở vật chất phải được bảo đảm tối thiểu 5 năm; diện tích đất đáp ứng chuẩn tương ứng với quy mô đào tạo dự kiến từ 400 người học; diện tích sàn, thiết bị, học liệu và hạ tầng kỹ thuật phải phù hợp với phần chương trình được tổ chức. Quyền chủ động vì thế đi cùng yêu cầu bảo đảm đầy đủ các điều kiện đào tạo.

Một đồng đầu tư cho đại học nên tạo ra năng lực gì?

Sự thay đổi này đặt lại câu hỏi về hiệu quả sử dụng nguồn lực: một đồng đầu tư cho đại học nên tạo ra thêm năng lực gì cho người học và cho nhà trường? Cơ sở vật chất vẫn phải đủ chuẩn, nhưng nguồn lực cũng cần được hướng mạnh vào đội ngũ, chương trình, học liệu, nghiên cứu, công nghệ và những điều kiện trực tiếp làm nên chất lượng đào tạo.

Bài toán thể hiện rõ ở các ngành cần thiết bị chuyên sâu. Phòng thí nghiệm bán dẫn, trung tâm dữ liệu hay hệ thống tính toán hiệu năng cao đều có chi phí đầu tư và vận hành lớn. Nếu doanh nghiệp, viện nghiên cứu hoặc khu công nghệ đã có hạ tầng đáp ứng yêu cầu, việc hợp tác sử dụng có thể hiệu quả hơn so với mỗi trường tự xây dựng một hệ thống riêng.

Nguồn lực tiết kiệm được có thể chuyển sang phát triển đội ngũ, cập nhật chương trình, hỗ trợ nghiên cứu, cấp học bổng và nâng cao dịch vụ dành cho người học. Tuy vậy, trường vẫn phải xác định phần năng lực cần trực tiếp sở hữu, thời hạn sử dụng hạ tầng của đối tác và phương án thay thế khi hợp tác kết thúc. Vì vậy, trường phải giữ quyền chủ động đối với những điều kiện cốt lõi để chương trình được duy trì ổn định, kể cả khi hợp tác thay đổi hoặc chấm dứt.

a1.jpg
Ảnh minh họa: nguồn CMCU

Mở rộng địa điểm nhưng không chia nhỏ trách nhiệm

Địa điểm liên kết đào tạo có thể đưa người học đến gần môi trường nghề nghiệp hơn. Thiết bị, dữ liệu, chuyên gia và các tình huống thực tế của doanh nghiệp giúp giờ học gắn chặt hơn với công việc. Lợi ích này đặc biệt rõ với các chương trình về công nghệ, kỹ thuật, logistics và những lĩnh vực biến đổi nhanh theo thị trường lao động.

Hợp tác về hạ tầng không làm thay đổi trách nhiệm học thuật của trường. Điều 29 Nghị định số 361/2026/NĐ-CP quy định cơ sở giáo dục đại học phải trực tiếp và thống nhất thực hiện tuyển sinh, quản lý người học, tổ chức đào tạo, kiểm tra, đánh giá, công nhận kết quả và cấp văn bằng. Đối tác có thể cung cấp nguồn lực; chuẩn đầu ra và kết quả học tập vẫn do trường quyết định và chịu trách nhiệm.

Nhiều địa điểm nhưng chỉ một chuẩn chất lượng

Một địa điểm mới có thể được mở nhanh hơn một phân hiệu, nhưng vẫn cần được quản lý theo cùng chuẩn chất lượng với trụ sở chính. Cùng một chương trình cần thống nhất về chuẩn đầu vào, chuẩn đầu ra, đề cương học phần, yêu cầu đối với giảng viên và quy trình kiểm tra, đánh giá. Đồng thời, người học tại địa điểm khác cũng cần được tiếp cận học liệu, dịch vụ hỗ trợ và cơ chế phản hồi tương đương.

Từ góc nhìn phụ huynh và thí sinh, những câu hỏi còn cụ thể hơn: học tại địa điểm khác có được dùng cùng hệ thống học liệu và dịch vụ hỗ trợ không; giảng viên có đáp ứng cùng chuẩn không; việc kiểm tra, đánh giá có thống nhất không; nếu địa điểm phải dừng hoạt động giữa khóa thì ai chịu trách nhiệm bố trí nơi học thay thế? Chính sách chỉ thực sự thuyết phục khi những quyền lợi này được bảo đảm rõ ràng.

Điều 3 Nghị định số 361/2026/NĐ-CP yêu cầu cơ quan quản lý khai thác dữ liệu đã có, không buộc tổ chức, cá nhân nộp lại hồ sơ có thể truy xuất. Giảm giấy tờ là thay đổi tích cực, song hiệu quả phụ thuộc vào mức độ đầy đủ và tin cậy của dữ liệu. Thông tin về người học, giảng viên, chương trình, cơ sở vật chất và kết quả đào tạo cần được cập nhật đến từng địa điểm.

Rủi ro lớn nhất là cơ chế linh hoạt về địa điểm bị sử dụng để mở rộng tuyển sinh nhanh hơn năng lực học thuật và năng lực quản trị. Nếu số địa điểm tăng nhưng đội ngũ giảng viên cơ hữu, hệ thống bảo đảm chất lượng và khả năng quản lý người học không tăng tương ứng, lợi thế của chính sách có thể trở thành áp lực mới đối với chất lượng. Nghị định mở không gian phát triển, nhưng không phải cơ chế để mở rộng quy mô nhanh hơn năng lực đào tạo thực tế.

Nhằm kiểm soát rủi ro và bảo đảm tính đồng bộ về chất lượng đào tạo, cơ sở giáo dục đại học cần tiến hành đánh giá toàn diện trước khi đầu tư triển khai hoạt động tại địa điểm đào tạo mới. Cụ thể, mọi quyết định mở rộng không gian phải dựa trên kết quả nghiên cứu kỹ lưỡng về điều kiện thực tiễn, sự phù hợp với quy hoạch nhân lực địa phương và xu hướng phát triển chung. Nhà trường cần trả lời được những câu hỏi rất cụ thể: địa phương có nhu cầu nhân lực đủ lớn hay không; quy mô người học có thể duy trì trong bao lâu; giảng viên được bố trí thế nào; tổng chi phí của cả giai đoạn là bao nhiêu; ai chịu trách nhiệm khi chất lượng giữa các địa điểm chênh lệch.

Đặc biệt, trong trường hợp địa điểm không còn đáp ứng điều kiện hoặc đối tác chấm dứt hợp tác, việc dừng tuyển sinh, chuyển tiếp chương trình, bố trí nơi học thay thế và bảo đảm quyền lợi của người học phải được thực hiện theo phương án đã chuẩn bị. Toàn bộ các nội dung này đòi hỏi sự nghiên cứu có trách nhiệm, phân tích tính khả thi trước khi thông qua quyết định đầu tư.

Chính sách sẽ được đo từ phía người học

Nghị định số 361/2026/NĐ-CP thể hiện khá rõ tinh thần của Nghị quyết số 71-NQ/TW về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo: tăng tự chủ gắn với tự chịu trách nhiệm, huy động nguồn lực xã hội, chuyển trọng tâm quản lý sang chất lượng, dữ liệu và trách nhiệm giải trình. Điểm đáng chú ý không chỉ là giảm một số ràng buộc, mà là nỗ lực chuyển tinh thần đổi mới thể chế thành những cơ chế có thể vận hành trong thực tế.

Hiệu quả của chính sách cuối cùng phải được nhìn từ phía người học: có tiếp cận được chương trình phù hợp hơn không; thời lượng thực hành và khả năng sử dụng thiết bị có tốt hơn không; chất lượng giảng dạy, học liệu và dịch vụ hỗ trợ tại địa điểm mới có tương đương với trụ sở chính không; quyền lợi có được bảo đảm nếu địa điểm phải thay đổi hoặc dừng hoạt động không.

Chính sách đã mở thêm không gian cho đại học. Phần còn lại là trách nhiệm của từng trường và năng lực giám sát của cơ quan quản lý: mở rộng đến đâu, chất lượng phải theo đến đó. Không gian đào tạo có thể mở rộng; chuẩn chất lượng thì không được phép giãn ra.

PGS.TS Nguyễn Thanh Tùng - Hiệu trưởng Trường Đại học CMC