Giảm hồ sơ, sổ sách cho giáo viên cần bắt đầu từ Sở GD&ĐT, hiệu trưởng

22/09/2026 08:44
KIM OANH
Theo dõi trên Google News
0:00 / 0:00
0:00

GDVN - Nếu bộ phận chuyên môn của sở giáo dục, ban giám hiệu nhà trường không thay đổi thì người chịu áp lực cuối cùng vẫn là giáo viên.

Thông tư 15/2026/TT-BGDĐT của Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Điều lệ trường tiểu học, trường trung học cơ sở, trường trung học phổ thông và trường phổ thông có nhiều cấp học và Công văn số 5922/BGDĐT-GDPT của Bộ Giáo dục và Đào tạo về cắt giảm các cuộc thi, hồ sơ, sổ sách, hội họp trong cơ sở giáo dục, đều hướng tới giảm hồ sơ, sổ sách, báo cáo cho giáo viên.

Nhưng, để chủ trương này thực sự đi vào cuộc sống, điều quan trọng không chỉ là ngành giáo dục ban hành văn bản yêu cầu giáo viên giảm hồ sơ mà trước hết cơ quan quản lý giáo dục và từng, địa phương, nhà trường phải tiên phong tự giảm cho mình.

Không thể có tình trạng cấp trên nói giảm, cấp dưới lại phát sinh thêm, văn bản của ngành yêu cầu tinh giản nhưng ở cơ sở vẫn xuất hiện thêm kế hoạch, danh sách, minh chứng và các loại hồ sơ phục vụ quản lý.

Nếu bộ phận chuyên môn của sở giáo dục, ban giám hiệu nhà trường không thay đổi thì người chịu áp lực cuối cùng vẫn là giáo viên. Chủ trương giảm tải hồ sơ cho giáo viên mà Bộ chỉ đạo khó đạt hiệu quả như mong muốn.

gdvn-ho-so-so-sach.jpg
Ảnh minh họa: Phạm Thi

Giảm hồ sơ phải bắt đầu từ người giao việc

Trước hết, sở giáo dục và đào tạo cần rà soát toàn bộ hệ thống kế hoạch, báo cáo, biểu mẫu mà mình đang yêu cầu các đơn vị trực thuộc thực hiện hằng năm, định kỳ. Mỗi loại hồ sơ cần trả lời được ba câu hỏi: Có thật sự cần thiết không? Có căn cứ pháp lý không? Có phục vụ trực tiếp cho quản lý và nâng cao chất lượng giáo dục không?

Nếu một loại báo cáo chỉ nhằm để “có số liệu”, một kế hoạch chỉ để “đủ hồ sơ”, một biểu mẫu chỉ để “lưu minh chứng” thì cần mạnh dạn loại bỏ. Không nên chuyển gánh nặng hành chính từ cấp quản lý xuống nhà trường rồi từ nhà trường tiếp tục chuyển xuống tổ chuyên môn, giáo viên.

Cùng một thông tin, nếu đã có trên hệ thống thì không nên yêu cầu giáo viên nhập lại nhiều lần. Nếu nhà trường đã có dữ liệu thì không nên tiếp tục yêu cầu tổ chuyên môn và giáo viên lập lại cùng một nội dung chỉ khác hình thức trình bày.

Đối với nhà trường, hiệu trưởng là người tổ chức và phân công công việc trong đơn vị mình quản lý nên có vai trò quyết định trong việc giảm hồ sơ cho giáo viên. Muốn giáo viên có thời gian đầu tư cho chuyên môn, trước hết nhà trường phải chấm dứt tư duy quản lý bằng hồ sơ.

Không nên mặc định giáo viên làm nhiều kế hoạch, nhiều báo cáo, nhiều minh chứng là người làm việc tích cực, cũng không nên xem một bộ hồ sơ dày là biểu hiện của quản lý chặt chẽ. Quản trị trường học hiện đại phải chuyển từ “quản lý bằng giấy tờ” sang “quản lý bằng kết quả”.

Nhà trường cần công khai danh mục hồ sơ giáo viên phải thực hiện theo quy định. Ngoài những hồ sơ bắt buộc, không nên tùy tiện yêu cầu giáo viên làm thêm các loại sổ sách, bảng biểu, báo cáo, minh chứng chỉ vì thói quen quản lý hoặc để phục vụ các đợt kiểm tra.

Một vấn đề cần được nhìn nhận thẳng thắn là hồ sơ phát sinh nhiều khi không đến từ Bộ hay sở giáo dục mà chính từ cách tổ chức thực hiện ở cơ sở.

Một cuộc họp có thể yêu cầu giáo viên viết thu hoạch; một chuyên đề có thể yêu cầu kế hoạch cá nhân; một hoạt động có thể yêu cầu báo cáo riêng; một phong trào có thể yêu cầu hình ảnh, danh sách, minh chứng.

Mỗi việc riêng lẻ tưởng như không nhiều, nhưng cộng lại tạo thành một khối lượng lớn công việc mà giáo viên phải đảm nhận.

Vì vậy, muốn giảm tải thật, nhà trường phải có nguyên tắc: không ban hành thêm hồ sơ nếu chưa có căn cứ pháp lý để chứng minh được sự cần thiết; không yêu cầu giáo viên làm lại thông tin mà nhà trường đã có, không biến mọi hoạt động phải có một bộ hồ sơ minh chứng.

Nhà trường cũng cần thay đổi cách kiểm tra, đánh giá giáo viên. Nếu kiểm tra vẫn nặng về việc “có đủ giấy tờ hay không” thì dù ngành giáo dục có chủ trương giảm hồ sơ, giáo viên vẫn sẽ phải làm nhiều để “phòng thân”.

Muốn giảm thực chất, tiêu chí kiểm tra phải chuyển mạnh sang chất lượng giờ dạy, kết quả học tập và sự tiến bộ của học sinh, hiệu quả giáo dục và trách nhiệm nghề nghiệp.

Một giáo viên dành thêm thời gian để chuẩn bị bài, đọc tài liệu, hỗ trợ học sinh yếu, bồi dưỡng học sinh có năng lực, đổi mới phương pháp dạy học sẽ tạo ra giá trị lớn hơn nhiều so với việc dành hàng giờ để hoàn thiện những bảng biểu không tạo thêm giá trị giáo dục.

Do đó, sở giáo dục cần hướng dẫn đúng, nhà trường phải đọc kĩ văn bản để điều hành, tổ chuyên môn phải thực hiện đúng và giáo viên là người được hưởng kết quả của quá trình tinh giản ấy.

Giảm hồ sơ không có nghĩa là giảm trách nhiệm của giáo viên. Ngược lại, đó là cách để giáo viên có thêm thời gian thực hiện đúng trách nhiệm cốt lõi của mình: dạy học và giáo dục học sinh. Điều cần tránh nhất là tình trạng giảm trên văn bản nhưng tăng trong thực tế.

Nếu cấp trên yêu cầu giảm nhưng cấp dưới tiếp tục phát sinh thêm biểu mẫu, nếu bỏ một loại hồ sơ nhưng lại thay bằng ba loại báo cáo khác, nếu giảm hồ sơ chính thức nhưng tăng minh chứng không chính thức thì đó không phải là cải cách mà chỉ là thay đổi hình thức của gánh nặng hành chính.

Muốn giáo viên giảm hồ sơ, hãy bắt đầu bằng việc người quản lý giảm yêu cầu. Muốn giáo viên có thời gian cho học sinh, hãy trả lại cho họ thời gian đang bị lấy đi bởi những thủ tục hành chính không cần thiết.

Giảm hồ sơ của giáo viên, sở giáo dục, ban giám hiệu nhà trường cần thực hiện đúng chỉ đạo của Bộ

Khi chúng ta thực hiện chính quyền 2 cấp, việc hướng dẫn thực hiện các loại kế hoạch giáo dục đều do bộ phận chuyên môn của sở giáo dục và đào tạo hướng dẫn. Và, đây cũng là cơ quan thực hiện việc thanh, kiểm tra chuyên môn ở các nhà trường.

Ban giám hiệu một số nhà trường còn quản lý theo tư duy cũ, sợ trách nhiệm, sợ thiếu và ít cập nhật những văn bản mới nên có những chỉ đạo chưa sâu sát và đôi khi gác ngoài tai những ý kiến đóng góp, tham mưu của cấp dưới.

Vì thế, muốn giảm hồ sơ thực sự cho giáo viên, ngành giáo dục các địa phương, nhà trường cần phải thực hiện được các vấn đề sau:

Thứ nhất, các cơ quan quản lý giáo dục ở địa phương cần có hướng dẫn thống nhất để tránh tình trạng mỗi nơi hiểu một cách, mỗi trường yêu cầu một kiểu. Tránh tình trạng khi thanh, kiểm tra yêu cầu thêm những loại hồ sơ ngoài quy định theo hướng dẫn của Thông tư 15/2026/TT-BGDĐT.

Thứ hai, ban giám hiệu nhà trường chỉ yêu cầu tổ chuyên môn xây dựng một kế hoạch giáo dục tổng thể, ngắn gọn, thiết thực, bám sát kế hoạch giáo dục của nhà trường và những nhiệm vụ thực tế của tổ. Không nên yêu cầu tổ chuyên môn lập những kế hoạch có nội dung trùng lặp với kế hoạch giáo dục nhà trường, tổ chuyên môn đã có.

Thứ ba, những nội dung có thể điều hành sinh hoạt tổ chuyên môn (ghi trong biên bản) thì không nhất thiết phải biến thành một kế hoạch độc lập. Hạn chế tối đa các biểu mẫu do cơ sở giáo dục tự phát sinh nếu không có căn cứ pháp lý từ quy định của cấp có thẩm quyền.

Thứ tư, chuyển trọng tâm kiểm tra từ “kiểm tra hồ sơ” sang “kiểm tra việc thực hiện và hiệu quả chuyên môn”. Không lấy số lượng kế hoạch, độ dày của hồ sơ hay hình thức trình bày văn bản làm căn cứ đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ của tổ trưởng và tổ chuyên môn.

Thứ năm, thực hiện phân cấp, phân quyền rõ ràng từng bộ phận trong nhà trường, khi có đoàn thanh tra, kiểm tra chuyên môn của tổ thì từng bộ phận phải có khả năng giải trình, phản biện. Tránh tư tưởng sợ sệt, vâng dạ và xem những góp ý, nhận định chủ quan của người thanh tra, kiểm tra đều đúng rồi thực hiện theo.

Chúng ta cần từng tổ chuyên môn, từng giáo viên biết mình phải làm gì, làm như thế nào và chịu trách nhiệm về kết quả chứ không cần một tổ chuyên môn, giáo viên chỉ giỏi trong việc tạo ra những tập hồ sơ đẹp.

Một kế hoạch tốt không phải là kế hoạch dài. Một tổ chuyên môn tốt không phải là tổ có nhiều hồ sơ. Một giáo viên tốt không phải là người có nhiều giấy tờ nhất. Vì thế, giảm hồ sơ không có nghĩa là buông lỏng quản lý. Ngược lại, đó là yêu cầu để quản lý khoa học hơn, hiện đại hơn và thực chất hơn.

Một khi các cấp quản lý đến giáo viên đều thực hiện đúng tinh thần chỉ đạo của Bộ, cùng hướng đến mục tiêu đổi mới giáo dục thì chất lượng giáo dục sẽ thay đổi mà giáo viên bớt đi những áp lực vô hình không thực sự cần thiết.

(*) Văn phong, nội dung bài viết thể hiện góc nhìn, quan điểm của tác giả.

KIM OANH