Muốn được miễn học phí thì ngành nông - lâm - thủy sản cần nâng chất lượng đầu vào

22/09/2026 06:22
Ngọc Mai
Theo dõi trên Google News
0:00 / 0:00
0:00

GDVN - Theo chuyên gia, khu vực công có thể không thiếu kỹ sư nông - lâm - thủy sản về số lượng, nhưng lại thiếu nhân lực chất lượng cao. 

Dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung Nghị định số 238/2025/NĐ-CP ngày 3/9/2025 của Chính phủ quy định về chính sách học phí, miễn, giảm, hỗ trợ học phí, hỗ trợ chi phí học tập và giá dịch vụ trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo tiếp tục nhận được sự quan tâm, đóng góp ý kiến xây dựng từ giới chuyên gia.

Trước đề xuất chính sách miễn học phí từ năm học 2026-2027 đối với sinh viên một số ngành học thuộc lĩnh vực nông - lâm - thủy sản, một số chuyên gia cho rằng, bên cạnh mục tiêu thu hút người học, việc sử dụng ngân sách nhà nước để hỗ trợ đào tạo cũng đặt ra vấn đề về nhu cầu nhân lực sau đào tạo, khả năng sử dụng nguồn nhân lực và hiệu quả của chính sách trong thực tế.

Đặc biệt, cần làm rõ liệu việc hỗ trợ học phí đối với sinh viên học ngành nông - lâm - thủy sản có nên gắn với nhu cầu nhân lực cụ thể của khu vực công, cơ chế đặt hàng đào tạo và trách nhiệm của người học sau khi tốt nghiệp hay không?

Nguồn ảnh minh họa: Trường Đại học Đông Á
Nguồn ảnh minh họa: Trường Đại học Đông Á

Miễn học phí chưa chắc thu hút nhiều sinh viên giỏi

Bàn về nội dung này, trao đổi với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, Giáo sư, Tiến sĩ khoa học Đặng Huy Huỳnh - Chủ tịch Hội đồng Cây Di sản Việt Nam, Anh hùng đa dạng sinh học ASEAN cho rằng, cùng với những lĩnh vực khác, lĩnh vực nông - lâm - thủy sản có vai trò quan trọng đối với đất nước và gắn với yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới. Đào tạo nhân lực cho lĩnh vực này cần được chú trọng hơn bởi đặc thù công việc tương đối vất vả, trong khi nhiều sinh viên có học lực tốt thường lựa chọn các ngành học khác. Do đó, việc hỗ trợ học phí là chính sách đáng hoan nghênh.

Giáo sư, Tiến sĩ khoa học Đặng Huy Huỳnh. Ảnh: NVCC
Giáo sư, Tiến sĩ khoa học Đặng Huy Huỳnh. Ảnh: NVCC

Tuy nhiên, chính sách cần gắn với yêu cầu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực vì thực tế đầu vào tuyển sinh khối ngành này chưa đồng đều. Nếu sinh viên hưởng chính sách hỗ trợ thì nên được khuyến khích, thậm chí đặt yêu cầu về ngoại ngữ để có khả năng tiếp cận, tiếp nhận các kỹ thuật và thành tựu hiện đại trong lĩnh vực nông - lâm - thủy sản của các nước. Bởi, trong kỷ nguyên mới, ngành nông - lâm - thủy sản không thể chậm phát triển.

Trong khi đó, Giáo sư, Tiến sĩ Bùi Chí Bửu – Chủ tịch Hội đồng Giáo sư liên ngành Nông nghiệp - Lâm nghiệp năm 2023, nguyên Viện trưởng Viện Lúa Đồng bằng Sông Cửu Long nhấn mạnh, việc miễn 100% học phí ngành nông - lâm - thủy sản nên gắn liền với nhu cầu nhân lực thực tế và trách nhiệm của người học sau khi tốt nghiệp để tránh lãng phí ngân sách. Bên cạnh đó, cần đề cập đến vai trò doanh nghiệp trong chính sách này.

"Doanh nghiệp nông nghiệp cần tham gia sâu vào quá trình đào tạo, góp ý chương trình, cấp học bổng và tiếp nhận sinh viên thực tập để đảm bảo sinh viên có việc làm đúng ngành sau tốt nghiệp. Một mình Nhà nước không kham nổi số lượng sinh viên ra trường", Giáo sư, Tiến sĩ Bùi Chí Bửu chia sẻ.

thay-buu.jpg
Giáo sư, Tiến sĩ Bùi Chí Bửu. Ảnh: NVCC

Còn theo Phó Giáo sư, Tiến sĩ Ngô Đăng Nghĩa - nguyên Viện trưởng Viện Công nghệ sinh học và Môi trường, Trường Đại học Nha Trang bày tỏ, việc miễn học phí cần được phân tích tổng thể, rộng hơn là khả năng thu hút nhiều người học.

Tại một số quốc gia, chính sách miễn hoặc hỗ trợ học phí được triển khai nhằm tạo cơ hội tiếp cận giáo dục cho người học. Chẳng hạn, tại châu Âu, công dân thuộc Liên minh châu Âu (EU) có thể được hưởng chính sách học phí thấp hoặc miễn học phí tại một số hệ thống giáo dục; tại Mỹ cũng có những trường đại học công lập, tư thục áp dụng các hình thức miễn, hỗ trợ học phí.

“Giáo dục bảo đảm cơ hội học tập, đặc biệt với những người có hoàn cảnh khó khăn. Thường người học các ngành nông - lâm - thủy sản xuất thân từ những gia đình chưa có điều kiện kinh tế thuận lợi. Do vậy, học bổng hoặc chính sách miễn học phí có thể tạo thêm cơ hội để nhóm sinh viên này tiếp cận với giáo dục đại học.

Nhưng miễn học phí chưa chắc đã thu hút được nhiều sinh viên giỏi theo học các ngành này. Thu nhập và cơ hội nghề nghiệp sau tốt nghiệp mới là yếu tố có sức hút lớn đối với người học. Nếu người lao động được trả lương tương xứng với năng lực, có môi trường nghề nghiệp tốt, sinh viên sẽ có động lực lựa chọn ngành học ngay cả khi phải đóng học phí cao”, Phó Giáo sư Ngô Đăng Nghĩa chia sẻ.

Ví dụ từ thực tế đào tạo ngành thủy sản. Thầy Nghĩa cho biết, để sinh viên thành thạo một phản ứng phân tích đối với tôm, cơ sở đào tạo cần bảo đảm đủ kinh phí để các em thực hành. Có những thí nghiệm, mỗi sinh viên phải thực hiện khoảng 10 lần mới có thể thành thạo, chi phí khi đó có thể lên tới hơn 1 triệu đồng/sinh viên cho một đợt học thực hành, trong khi mức hỗ trợ từ ngân sách Nhà nước cho hoạt động này không đáng kể.

Như vậy, từ trường hợp này cho thấy, việc giảm hoặc miễn học phí chưa trực tiếp giải quyết được yêu cầu về chất lượng đào tạo. Hay nói cách khác, chính sách miễn học phí tự thân chưa thể giải quyết bài toán nhân lực. Đáp án cho bài toán này là phải giải quyết được đầu ra vị trí việc làm, thu nhập, đãi ngộ gắn với yêu cầu nhân lực chất lượng cao.

“Chính sách học phí phải hướng đến chất lượng đào tạo và khả năng đáp ứng của người học sau tốt nghiệp. Sinh viên học xong có đủ giỏi hay không, có vị trí việc làm không và xã hội có đãi ngộ tương xứng với người học tốt nghiệp hay không?”, thầy Nghĩa chia sẻ.

Tránh lãng phí nguồn lực vào đào tạo ngành nghề xã hội chưa có nhu cầu

Một số lập luận cho rằng, sinh viên tốt nghiệp ngành nông - lâm - thủy sản sau tốt nghiệp chủ yếu làm việc tại doanh nghiệp, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài nên nếu áp dụng chính sách miễn học phí thì người học phải cam kết làm việc trong khu vực công sau khi tốt nghiệp.

Chia sẻ về điều này, Giáo sư Bửu cho rằng, vị trí việc làm ở khu vực công rất hạn chế. Trong khi đó, nông nghiệp hiện đại đòi hỏi công nghệ cao, nông nghiệp chính xác (precision agriculture), chuyển đổi số,... Đây cũng là nội dung mà khối doanh nghiệp tư nhân, tập đoàn lớn và một số doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài dẫn dắt và vận hành hiệu quả. Do đó, giải pháp phù hợp là học bổng gắn với doanh nghiệp; và việc hỗ trợ sinh viên khởi nghiệp cũng nên được kèm theo chính sách này.

Theo Giáo sư Bửu, nếu đề xuất miễn 100% học phí và cấp sinh hoạt phí cho sinh viên ngành nông - lâm - thủy sản, Nhà nước cần xây dựng các tiêu chí cụ thể để xác định chính xác lĩnh vực, địa bàn đang thiếu nhân lực. Trong đó, cần căn cứ vào tỷ lệ tuyển dụng thực tế, nhu cầu phát triển của từng vùng theo quy hoạch mới nhất, nhu cầu nhân lực cho nông nghiệp công nghệ cao, cũng như kết quả điều tra về tỷ lệ sinh viên tốt nghiệp làm đúng ngành nghề được đào tạo.

“Tính đến hết năm 2025, lao động trong khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm 25,7% tổng số lao động có việc làm của nền kinh tế [1], và hiện nay không ít sinh viên tốt nghiệp ngành nông - lâm - thủy sản ra trường làm trái ngành nghề. Chính vì vậy, cần thiết phải có khảo sát về nhu cầu tuyển dụng, vị trí việc làm và số lượng biên chế còn thiếu trước khi quyết định quy mô hỗ trợ chính sách”, Giáo sư Bửu chia sẻ.

Cùng đưa ra quan điểm, Phó Giáo sư Nghĩa chia sẻ, thực tế thị trường lao động đang cho thấy một nghịch lý khi khu vực công có thể không thiếu kỹ sư nông - lâm - thủy sản về số lượng, nhưng lại thiếu nhân lực chất lượng cao. Do vậy, chính sách hỗ trợ học phí cần hướng đến mục tiêu tạo cơ hội học tập và khuyến khích những người học có năng lực.

“Chính sách cần được thiết kế phù hợp với yêu cầu về chất lượng, tránh đặt nặng việc gia tăng số lượng người có bằng đại học trong khi chất lượng đào tạo chưa tương xứng”, Phó Giáo sư Nghĩa nhấn mạnh.

Còn theo Giáo sư Huỳnh, có thể nghiên cứu cơ chế cam kết đối với sinh viên ngành nông - lâm - thủy sản được hưởng hỗ trợ từ ngân sách. Người học nhận hỗ trợ từ Nhà nước cần có trách nhiệm tương ứng, trong đó có thể cam kết một khoảng thời gian làm việc trong khu vực công sau khi tốt nghiệp. Phạm vi này có thể bao gồm các hợp tác xã hoặc những đơn vị thuộc khu vực công có nhu cầu nhân lực.

Song, cơ chế này cần được thiết kế phù hợp với mục tiêu sử dụng nguồn nhân lực được đào tạo bằng ngân sách, đồng thời tránh để chính sách hỗ trợ trở thành nguồn cung lao động giá rẻ cho các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.

“Không máy móc phân biệt khu vực công với khu vực tư, bởi doanh nghiệp tư cũng tham gia sản xuất hàng hóa, dịch vụ và đóng góp vào nền kinh tế. Tuy nhiên, trước khi quyết định chính sách miễn học phí, cần nghiên cứu đến cả những trường hợp người học sau khi được ngân sách hỗ trợ lại chủ yếu cung cấp lao động giá rẻ cho doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài”, Giáo sư Huỳnh bày tỏ.

Chia sẻ thêm, Giáo sư Bửu cho rằng có thể nghiên cứu cơ chế Nhà nước “đặt hàng” đào tạo theo từng ngành, vị trí việc làm và địa bàn đang thiếu nhân lực, đồng thời gắn chính sách hỗ trợ với cam kết việc làm sau tốt nghiệp, góp phần giải quyết tình trạng “thừa thầy, thiếu thợ”, và khắc phục sự thiếu hụt nhân lực nông nghiệp tại các địa phương.

Tuy nhiên, đây là giải pháp rất khó triển khai nếu chưa bảo đảm được các yếu tố liên quan. Ví dụ như nhu cầu lao động tri thức có thể thay đổi theo từng giai đoạn phát triển của tổ chức và nền kinh tế, nên cần một chương trình hành động (Agenda) mang tính chiến lược để thu hút, đào tạo và giữ chân nhân tài.

Bên cạnh đó, là năng lực của các cơ sở đào tạo nguồn nhân lực. Không phải cơ sở nào cũng có điều kiện đào tạo nhân lực chất lượng cao, trong khi kinh phí dành cho nghiên cứu khoa học tại nhiều đơn vị còn hạn chế. Những sinh viên năng lực tốt thường có xu hướng ra nước ngoài học tập để tiếp cận đội ngũ giảng viên giỏi, phòng thí nghiệm tiên tiến và nguồn kinh phí nghiên cứu tốt.

"Chúng ta cần tránh lãng phí nguồn đầu tư cho giáo dục vào những ngành nghề xã hội chưa có nhu cầu.

Từ thực tiễn hiện nay, có thể ưu tiên ngân sách cho nông nghiệp chính xác và chế biến với các công cụ thông minh, xem đây là một chiến lược an ninh quốc gia.

Ngoài ra, cũng có thể áp dụng chính sách miễn học phí hoặc cấp học bổng toàn phần, gắn với cơ chế đặt hàng nguồn nhân lực; gắn hỗ trợ tài chính với cam kết việc làm thông qua mô hình PPP; xây dựng trọn gói chi phí học tập với mục tiêu rõ ràng", Giáo sư Bùi Chí Bửu nêu quan điểm.

Tài liệu tham khảo:

[1] https://nief.mof.gov.vn/kinh-te-xa-hoi/nhin-lai-thi-truong-lao-dong-viec-lam-o-nuoc-ta-nam-2025-va-giai-phap-phat-trien-nam-2026-11831.html

Ngọc Mai