Khoa học xã hội và nhân văn là nhóm ngành nghiên cứu về con người, xã hội, văn hóa và các mối quan hệ giữa cá nhân với cộng đồng. Lĩnh vực này không chỉ tạo ra các công trình nghiên cứu mà còn góp phần tư vấn, phản biện, hoạch định chính sách, bảo tồn văn hóa và giải quyết những vấn đề đặt ra trong đời sống.
Tại buổi làm việc với Đại học Huế vừa qua, Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Vũ Hải Quân cho rằng các công trình khoa học xã hội, nhân văn cần được nhìn nhận từ những giá trị mà chúng tạo ra cho đất nước và xã hội, thay vì đo đếm bằng số lượng công bố quốc tế.
Từ “đếm sản phẩm” đến đo tác động thực tiễn
Trước vấn đề này, trao đổi với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, Phó giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Thái Sơn - Trưởng khoa Giáo dục Chính trị, Trường Sư phạm, Trường Đại học Vinh cho rằng, về mặt lý luận, khoa học xã hội và nhân văn thuộc lĩnh vực nghiên cứu về con người, xã hội và các mối quan hệ xã hội, có chức năng nhận thức, dự báo và góp phần cải tạo xã hội.
Giá trị của khoa học xã hội và nhân văn không chỉ nằm ở việc công bố công trình hay xuất hiện trong các cơ sở dữ liệu quốc tế, mà quan trọng hơn là khả năng đưa kết quả nghiên cứu vào thực tiễn, góp phần giải quyết các vấn đề đặt ra trong đời sống và thúc đẩy phát triển xã hội.
Từ thực tiễn nghiên cứu, thầy Sơn cho rằng không nên xem công bố quốc tế là thước đo duy nhất để đánh giá chất lượng và giá trị của khoa học xã hội và nhân văn. Đây là lĩnh vực có tính đặc thù, gắn chặt với điều kiện lịch sử, văn hóa và những vấn đề thực tiễn của từng quốc gia. Những nghiên cứu về lịch sử, bảo tồn di sản văn hóa, tư vấn chính sách phát triển kinh tế - xã hội hay các vấn đề đặc thù của Việt Nam có thể tạo ra giá trị lớn đối với đất nước, dù chưa chắc phù hợp với mối quan tâm của các tạp chí quốc tế.
Vì vậy, nếu tuyệt đối hóa công bố quốc tế, hoạt động nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn có thể đứng trước nguy cơ xa rời thực tiễn, chạy theo hình thức và các tiêu chí mang tính học thuật đơn thuần.
Theo Phó giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Thái Sơn, hệ thống đánh giá thành tích nghiên cứu khoa học của giảng viên, nhà khoa học trong lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn hiện vẫn chưa phản ánh đầy đủ những đóng góp thực chất như tư vấn chính sách, phản biện xã hội hay bảo tồn văn hóa.
Một trong những bất cập điển hình là cách đánh giá còn nặng về định lượng, thể hiện qua số lượng bài báo, chỉ số tác động của tạp chí hay chỉ số H-index. Trong khi đó, những sản phẩm có giá trị thực tiễn như báo cáo tư vấn chính sách được cơ quan có thẩm quyền sử dụng, dự thảo văn bản pháp quy, bộ địa chí địa phương hay quy hoạch bảo tồn di sản lại khó quy đổi hoặc chưa được đánh giá tương xứng về giá trị khoa học.
Bên cạnh đó, theo thầy Sơn, sản phẩm khoa học xã hội và nhân văn có đặc thù khác với các lĩnh vực khoa học tự nhiên và công nghệ. Nếu một sáng chế hoặc công nghệ có thể được chuyển giao và tạo ra doanh thu tương đối rõ ràng, tác động của một công trình khoa học xã hội và nhân văn thường thể hiện qua những thay đổi về nhận thức, văn hóa, chính sách và đời sống xã hội, có tính lâu dài và khó đo lường bằng giá trị kinh tế trước mắt.
Chưa kể cơ chế quản lý đề tài còn có biểu hiện hành chính hóa và thiên về tính ngắn hạn. Việc thực hiện, quyết toán đề tài có khi chú trọng nhiều đến hồ sơ, chứng từ và tiến độ theo năm tài chính, trong khi những công trình khoa học xã hội và nhân văn có giá trị cần quá trình nghiên cứu, tích lũy và kiểm chứng lâu dài.
Điều này có thể khiến nhà khoa học khó dành đủ thời gian cho những nghiên cứu có chiều sâu và tác động xã hội lớn.
Đồng quan điểm, Tiến sĩ Hà Mỹ Hạnh - Trưởng khoa Chính trị và Tâm lý Giáo dục, Trường Đại học Tân Trào cho rằng, giá trị của một công trình khoa học không chỉ nằm ở nơi công bố mà quan trọng hơn là công trình đó giải quyết được vấn đề gì của đất nước và xã hội. Với khoa học xã hội và nhân văn, đóng góp còn thể hiện qua khả năng tư vấn chính sách, nâng cao chất lượng giáo dục, bảo tồn văn hóa, củng cố đồng thuận xã hội và phát triển con người.
Thời gian qua, công bố khoa học được chú trọng, góp phần nâng cao tính chuẩn mực và minh bạch trong nghiên cứu. Tuy nhiên, việc đánh giá tại một số nơi vẫn thiên về những chỉ số dễ thống kê như số lượng bài báo, chỉ số tạp chí, trong khi những kết quả như báo cáo được sử dụng trong hoạch định chính sách, mô hình được áp dụng thực tế hay đóng góp cho cộng đồng chưa được ghi nhận tương xứng.
Theo Tiến sĩ Hạnh, không nên hạ thấp chuẩn mực công bố quốc tế, nhưng cũng không thể áp dụng một thước đo cho mọi lĩnh vực. Cần chuyển từ tư duy “đếm sản phẩm” sang đánh giá đồng thời chất lượng học thuật, liêm chính khoa học và tác động xã hội của nghiên cứu. Cách tiếp cận này phù hợp với định hướng đưa khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo phục vụ trực tiếp sự phát triển đất nước.
Nếu nhìn nhận khoa học xã hội và nhân văn từ những giá trị mà lĩnh vực này tạo ra cho đất nước và xã hội, thay vì chủ yếu đo đếm bằng số lượng công bố quốc tế, theo Tiến sĩ Hạnh, cần có cách nhận diện và đánh giá tác động thực tiễn bằng những minh chứng cụ thể.
Theo đó, tác động của một công trình có thể được nhận diện qua nhiều phương diện. Đó có thể là việc kết quả nghiên cứu được trích dẫn, tham khảo hoặc tiếp thu trong các văn bản, chính sách; được chuyển hóa thành chương trình, giáo trình, mô hình hoặc giải pháp được triển khai trong thực tế; tạo ra những chuyển biến tích cực đối với cộng đồng; hoặc góp phần bảo tồn, phát huy và lan tỏa các giá trị lịch sử, văn hóa.
Để những đóng góp này được đánh giá một cách khách quan, Tiến sĩ Hạnh cho rằng mỗi công trình có thể xây dựng một “hồ sơ tác động”, trong đó làm rõ công trình giải quyết vấn đề gì, hướng tới đối tượng thụ hưởng nào, được áp dụng ở phạm vi nào và tạo ra những thay đổi gì so với trước khi triển khai. Những thay đổi đó cần được đặt trên các minh chứng có thể kiểm chứng, chẳng hạn văn bản thể hiện việc cơ quan quản lý tiếp thu kết quả nghiên cứu, số liệu đánh giá độc lập, phản hồi của đơn vị sử dụng hoặc các sản phẩm, mô hình đã được đưa vào thực tế.
Việc đánh giá cũng không nên chỉ được thực hiện tại thời điểm công trình hoàn thành. Với đặc thù của khoa học xã hội và nhân văn, nhiều kết quả cần một khoảng thời gian nhất định mới có thể phát huy tác dụng, từ thay đổi nhận thức, hành vi đến tác động tới chính sách, giáo dục, văn hóa và đời sống xã hội. Vì vậy, cần có cơ chế theo dõi và đánh giá trong một khoảng thời gian phù hợp để ghi nhận đầy đủ hơn những tác động có thể chưa xuất hiện ngay lập tức.
Cùng với đó, chất lượng của việc đánh giá phụ thuộc không nhỏ vào chính chủ thể và quy trình đánh giá. Hội đồng cần có chuyên gia am hiểu đúng lĩnh vực nghiên cứu, đại diện cơ quan hoặc đơn vị sử dụng kết quả và chuyên gia về phương pháp đánh giá; đồng thời tiêu chí, quy trình cần được công khai, minh bạch và có cơ chế kiểm soát xung đột lợi ích.
“Khi được đặt trên những tiêu chí rõ ràng, có minh chứng và có cơ chế kiểm chứng, tác động thực tiễn sẽ không còn là một khái niệm mang tính định tính, mà có thể trở thành một căn cứ cụ thể để nhận diện giá trị của công trình khoa học xã hội và nhân văn”, cô Hạnh nhấn mạnh.
Cần thước đo mới để ghi nhận đúng giá trị và tác động của nghiên cứu
Trước yêu cầu đánh giá các công trình khoa học xã hội và nhân văn từ những giá trị tạo ra cho đất nước và xã hội, Phó giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Thái Sơn cho rằng cần xây dựng một phương thức đo lường “tác động thực tiễn” theo hướng khách quan, thực chất, kết hợp giữa định tính và định lượng.
Theo thầy Sơn, tác động của một công trình có thể được xem xét trên nhiều phương diện. Trước hết là mức độ thể chế hóa, thể hiện ở việc kết quả nghiên cứu được sử dụng ở cấp nào, có được trích dẫn, tiếp thu hoặc cụ thể hóa trong văn kiện, nghị quyết, luật, chiến lược phát triển ở cấp quốc gia, địa phương hay không.
Bên cạnh đó là mức độ tác động xã hội và lan tỏa văn hóa, có thể nhận diện qua số lượng người thụ hưởng từ các chương trình, mô hình được hình thành trên cơ sở nghiên cứu; những thay đổi về nhận thức của cộng đồng; hay việc kết quả nghiên cứu được chuyển hóa vào giáo trình, sách giáo khoa và các chương trình đào tạo.
Một phương diện khác là khả năng giải quyết các vấn đề thực tiễn. Đó có thể là việc công trình cung cấp cơ sở khoa học cho xử lý các vấn đề, xung đột xã hội; hỗ trợ quản trị rủi ro thiên tai, ứng phó với biến đổi khí hậu; hoặc góp phần đấu tranh, phản bác những quan điểm sai trái, thù địch trên không gian mạng.
“Cách tiếp cận này sẽ giúp ghi nhận đầy đủ hơn giá trị của các công trình khoa học xã hội và nhân văn, thay vì chỉ dựa vào số lượng công bố hoặc các chỉ số học thuật”, thầy Sơn nhận định.
Tuy nhiên, theo thầy Sơn, để “tác động thực tiễn” trở thành một tiêu chí đánh giá chính thức, vấn đề quan trọng không chỉ là xác định tiêu chí mà còn phải xây dựng được cơ chế đánh giá có căn cứ, có thể kiểm chứng, hạn chế tối đa sự phụ thuộc vào cảm tính hoặc các mối quan hệ.
Trước hết, cần dựa trên minh chứng về đầu ra và khả năng ứng dụng của công trình. Những nghiên cứu được đánh giá về tác động thực tiễn cần chứng minh được kết quả đã được cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội, doanh nghiệp hoặc địa phương tiếp nhận và sử dụng. Chẳng hạn, khuyến nghị từ một đề tài được sử dụng trong quá trình xây dựng chính sách, pháp luật; hoặc kết quả nghiên cứu được ứng dụng trong bảo tồn, phát huy các giá trị di sản.
Cùng với đó, cần có cơ chế đánh giá độc lập, kết hợp giữa hội đồng chuyên gia và đại diện bên thụ hưởng kết quả nghiên cứu. Trong khi các nhà khoa học có thể đánh giá độ tin cậy và giá trị học thuật, các nhà quản lý, hoạch định chính sách hoặc đại diện cộng đồng có thể cung cấp góc nhìn về mức độ hữu ích và khả năng ứng dụng của kết quả trong thực tế.
Để tránh việc “tác động thực tiễn” trở thành một khái niệm khó đo lường, thầy Sơn cho rằng bộ tiêu chí cần được mã hóa và lượng hóa các dạng tác động, chẳng hạn tác động về chính sách, pháp luật; kinh tế, xã hội; văn hóa, môi trường. Mỗi nhóm cần có tiêu chí cụ thể, kèm theo thang đánh giá và hệ thống minh chứng để có thể kiểm tra, đối chiếu.
Một vấn đề khác cần tính đến là độ trễ của tác động. Không phải công trình khoa học xã hội và nhân văn nào cũng tạo ra ảnh hưởng ngay sau khi nghiệm thu. Nhiều kết quả cần thời gian để được tiếp nhận, chuyển hóa thành chính sách, chương trình, mô hình hoặc từng bước tạo ra thay đổi trong đời sống xã hội.
Vì vậy, theo thầy Sơn, bên cạnh đánh giá tại thời điểm công trình hoàn thành, cần có cơ chế đánh giá lại sau một khoảng thời gian nhất định, chẳng hạn từ 3-5 năm. Đây là cơ sở để ghi nhận đầy đủ hơn những giá trị có thể chưa biểu hiện ngay nhưng được hình thành và phát huy trong quá trình ứng dụng.
Từ thực tiễn đó, thầy Sơn cho rằng đề xuất của Bộ trưởng Vũ Hải Quân về việc thí điểm trên toàn quốc và thành lập hội đồng chuyên môn đánh giá công trình dựa trên “tác động và giá trị” là một hướng tiếp cận mới, có thể tạo ra những thay đổi trong cách nhìn nhận và đánh giá nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn.
Theo thầy, trước hết, cơ chế này có thể góp phần hạn chế xu hướng chạy theo số lượng công bố và các chỉ số học thuật, nhất là trong trường hợp nghiên cứu được thực hiện chủ yếu để đáp ứng chỉ tiêu nhưng ít được ứng dụng trong thực tế. Khi giá trị công trình được xem xét thêm từ tác động đối với chính sách, xã hội, văn hóa và đời sống, những nghiên cứu gắn với các vấn đề cụ thể của đất nước sẽ có thêm cơ sở để được ghi nhận.
Đồng thời, cách đánh giá này có thể mở rộng cách nhìn về giá trị của khoa học xã hội và nhân văn. Những công trình phục vụ tư vấn chính sách, nghiên cứu thực địa, bảo tồn văn hóa hay sáng tạo nghệ thuật có thể được xem xét từ những đóng góp mà chúng tạo ra, thay vì chủ yếu đặt cạnh các công bố trên tạp chí quốc tế và áp dụng cùng một hệ thống chỉ số.
Cơ chế đánh giá mới cũng có thể tăng cường mối liên kết giữa nghiên cứu, đào tạo và hoạch định chính sách. Khi khả năng giải quyết vấn đề thực tiễn trở thành một căn cứ đánh giá, các cơ sở giáo dục đại học có thêm động lực kết nối với địa phương, cơ quan quản lý và tổ chức xã hội ngay từ khâu lựa chọn vấn đề nghiên cứu, đồng thời chú trọng hơn đến chuyển giao và đưa kết quả nghiên cứu vào đời sống.
Ở góc độ phát triển đội ngũ, việc ghi nhận đầy đủ hơn những công trình có tác động cũng có thể tạo động lực để nhà khoa học lựa chọn những vấn đề khó, đòi hỏi thời gian nghiên cứu dài và bám sát thực tiễn. Một báo cáo tư vấn chính sách hay một công trình nghiên cứu thực địa có thể tiêu tốn nhiều thời gian, công sức nhưng chưa chắc được phản ánh tương xứng nếu chỉ đánh giá bằng các chỉ số công bố.
“Khi những đóng góp này được ghi nhận chính thức, nhà khoa học sẽ có thêm động lực theo đuổi các hướng nghiên cứu gắn với nhu cầu phát triển của đất nước, thay vì chỉ ưu tiên những đề tài thuận lợi cho việc công bố và tích lũy chỉ số. Cách tiếp cận này đồng thời có ý nghĩa đối với đào tạo thế hệ nghiên cứu trẻ, khi sinh viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh được định hướng nhiều hơn tới việc phát hiện, lý giải và giải quyết những vấn đề đang đặt ra trong thực tiễn”, thầy Sơn cho hay.
Ở một góc nhìn khác, Tiến sĩ Hà Mỹ Hạnh cho rằng nếu được triển khai phù hợp, cơ chế thí điểm có thể tạo ra những thay đổi từ chính cách lựa chọn vấn đề và tổ chức hoạt động nghiên cứu. Theo đó, hoạt động nghiên cứu có thể xuất phát nhiều hơn từ những vấn đề thực tiễn của đất nước và địa phương; giảng viên có thêm động lực theo đuổi những nghiên cứu dài hạn, khó lượng hóa nhưng có ý nghĩa đối với chính sách, văn hóa và con người.
Đồng thời các cơ sở giáo dục đại học có thêm căn cứ để đổi mới việc giao nhiệm vụ, phân bổ nguồn lực và đánh giá đội ngũ theo đặc thù từng lĩnh vực.
Tuy nhiên, Tiến sĩ Hạnh lưu ý, việc thay đổi cách đánh giá không đồng nghĩa với thay thế một dạng “chạy theo chỉ số” bằng một dạng “chạy theo tác động” khác. Cơ chế này chỉ thực sự có ý nghĩa khi tiêu chí rõ ràng, minh chứng có thể kiểm chứng và hội đồng đánh giá có chuyên môn, độc lập, trách nhiệm. Nếu thiếu những điều kiện đó, “tác động thực tiễn” cũng có nguy cơ trở thành những báo cáo mang tính hình thức.
Điều quan trọng là tạo ra một cách ghi nhận công bằng hơn đối với những đóng góp vốn khó phản ánh bằng số lượng bài báo. Khi đó, thành quả nghiên cứu không chỉ được nhìn nhận qua một công bố, mà còn qua một chính sách được hoàn thiện, một vấn đề xã hội được góp phần giải quyết, một giá trị văn hóa được gìn giữ hay một nhóm người được hưởng lợi từ kết quả nghiên cứu.