Chuyên gia nêu thực trạng và giải pháp hướng nghiệp, phân luồng trong giáo dục phổ thông

20/09/2026 06:22
Bài và ảnh: Thúy Hiền
Theo dõi trên Google News
0:00 / 0:00
0:00

GDVN - Ngày 19/9, Hội Khoa học Tâm lý - Giáo dục Việt Nam tổ chức Hội thảo Khoa học quốc gia với chủ đề “Hướng nghiệp và phân luồng trong giáo dục phổ thông: Thực trạng và giải pháp”.

Nhằm tạo diễn đàn trao đổi học thuật, chia sẻ kinh nghiệm thực tiễn và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả công tác hướng nghiệp, phân luồng trong giáo dục, hội thảo được tổ chức trong bối cảnh triển khai Chương trình Giáo dục phổ thông 2018 và yêu cầu đổi mới giáo dục gắn với phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao.

Đây là dịp để các nhà khoa học, nhà quản lý giáo dục, giảng viên, giáo viên, doanh nghiệp và các tổ chức xã hội cùng trao đổi, thảo luận về thực trạng, khó khăn; đồng thời đề xuất các mô hình, giải pháp thiết thực, khả thi nhằm nâng cao chất lượng giáo dục hướng nghiệp và phân luồng học sinh trong giai đoạn hiện nay.

Các bài viết tham luận tập trung vào nhiều nội dung như: giáo dục hướng nghiệp trong nhà trường; tư vấn hướng nghiệp và phân luồng; giáo dục tinh thần khởi nghiệp; vai trò của doanh nghiệp, gia đình và các tổ chức xã hội; ứng dụng công nghệ số và trí tuệ nhân tạo trong hướng nghiệp; kinh nghiệm quốc tế và các giải pháp phù hợp với bối cảnh Việt Nam.

gdvn-dai-bieu-2.jpg
gdvn-dai-bieu.jpg
Các đại biểu tham dự hội thảo Khoa học quốc gia với chủ đề “Hướng nghiệp và phân luồng trong giáo dục phổ thông: Thực trạng và giải pháp”.

Tham dự hội thảo về phía Bộ Giáo dục và Đào tạo có Tiến sĩ Nguyễn Thế Sơn - Phó Vụ trưởng Vụ Giáo dục phổ thông, Bộ Giáo dục và Đào tạo. Về phía Hội Khoa học Tâm lý - Giáo dục Việt Nam có sự tham gia của Phó Giáo sư, Tiến sĩ Trần Kiều - Chủ tịch; Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Ngọc Phú - Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hội; Tiến sĩ Nguyễn Tùng Lâm - Phó Chủ tịch; Tiến sĩ Nguyễn Văn Ly - Phó Chủ tịch; cùng các thành viên khác thuộc Hội Khoa học Tâm lý - Giáo dục Việt Nam. Ngoài ra, hội thảo còn có sự hiện diện của nhiều nhà khoa học và nhà quản lý giáo dục từ các trường học, cơ quan trên toàn quốc.

Phát biểu khai mạc hội thảo, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Trần Kiều - Chủ tịch Hội Khoa học Tâm lý - Giáo dục Việt Nam cho biết: “Hướng nghiệp học sinh là hoạt động tất yếu trong quá trình phát triển nguồn nhân lực của mỗi quốc gia. Trong những năm gần đây, công tác hướng nghiệp và phân luồng đã được quan tâm nhiều hơn. Quá trình này không chỉ liên quan đến nhà trường mà còn có sự tham gia của gia đình, doanh nghiệp, cộng đồng và nhiều chủ thể khác.

Hiệu quả của hướng nghiệp không nên chỉ được nhìn nhận ở việc học sinh lựa chọn ngành học hay nghề nghiệp nào, mà cần được xem xét ở khả năng giúp các em nhận thức đúng về bản thân, tiếp cận thông tin đầy đủ, hình thành kỹ năng lựa chọn và từng bước xác định mục tiêu cho tương lai.

Để làm được điều đó, cần có cơ chế phối hợp giữa các lực lượng tham gia vào quá trình hướng nghiệp. Nhà trường, gia đình, doanh nghiệp và các tổ chức liên quan cần có sự kết nối, chia sẻ thông tin và phối hợp trong tổ chức hoạt động. Nếu thiếu cơ chế liên kết, các hoạt động hướng nghiệp khó có thể được triển khai một cách đồng bộ và bảo đảm hiệu quả.

Một vấn đề khác cần được quan tâm là đội ngũ thực hiện công tác hướng nghiệp. Đây không chỉ là câu chuyện về số lượng mà còn liên quan đến năng lực, phương pháp và điều kiện để những người làm công tác này có thể tư vấn, cung cấp thông tin và hỗ trợ học sinh một cách phù hợp.

Do đó, công tác hướng nghiệp cần được nhìn nhận một cách cụ thể hơn, khoa học hơn và lâu dài hơn. Trên cơ sở xác định rõ mục tiêu hướng nghiệp, cần làm rõ nội dung, phương thức tổ chức và cách thức đánh giá hiệu quả của hoạt động này.

Việc đánh giá là yếu tố quan trọng để xác định các hoạt động hướng nghiệp đang được thực hiện như thế nào, hiệu quả đến đâu và cần điều chỉnh những gì. Đây cũng là cơ sở để công tác hướng nghiệp trong giáo dục phổ thông được triển khai theo tinh thần khoa học và phù hợp với thực tiễn”.

Tại hội thảo, Tiến sĩ Nguyễn Thế Sơn - Phó Vụ trưởng Vụ Giáo dục phổ thông (Bộ Giáo dục và Đào tạo) nhấn mạnh, Thông tư số 16/2026/TT-BGDĐT (gọi tắt là Thông tư 16) của Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định về hướng nghiệp và phân luồng trong giáo dục đánh dấu sự thay đổi đáng chú ý trong cách tiếp cận công tác hướng nghiệp và phân luồng học sinh.

“Một trong những điểm mới quan trọng là chuyển từ cách làm thiên về chỉ tiêu, định hướng sang phân luồng dựa trên năng lực, nguyện vọng của học sinh và nhu cầu nhân lực của địa phương, xã hội. Cách tiếp cận này đồng thời đặt học sinh và gia đình vào vị trí chủ thể trong quá trình lựa chọn; nhà trường giữ vai trò cung cấp thông tin, tư vấn và hỗ trợ học sinh ra quyết định.

Thông tư xác định 6 nguyên tắc thực hiện hướng nghiệp, trong đó tôn trọng quyền lựa chọn của học sinh là nguyên tắc trung tâm. Các nguyên tắc còn lại gồm bảo đảm sự phù hợp với năng lực, nguyện vọng của học sinh và điều kiện thực tế; bảo đảm tính hệ thống, liên tục; tăng cường phối hợp giữa nhà trường, gia đình, cơ sở giáo dục nghề nghiệp, cơ sở giáo dục đại học, doanh nghiệp và cộng đồng; bảo đảm công bằng trong tiếp cận dịch vụ hướng nghiệp, đặc biệt quan tâm học sinh ở vùng khó khăn và nhóm dân tộc thiểu số; đồng thời huy động, sử dụng hiệu quả các nguồn lực.

Thông tư cũng nhấn mạnh việc đổi mới hình thức tổ chức hướng nghiệp, gắn tư vấn với trải nghiệm thực tế. Nhà trường có thể tổ chức các hoạt động trải nghiệm, tư vấn trực tiếp hoặc trực tuyến; phối hợp với cơ sở giáo dục nghề nghiệp, cơ sở giáo dục đại học, doanh nghiệp và các tổ chức liên quan để tổ chức tham quan, trải nghiệm; đồng thời tăng cường truyền thông nhằm nâng cao nhận thức của học sinh và cha mẹ học sinh.

Về phân luồng, định hướng được xác định theo hướng mở, tạo nhiều lựa chọn cho học sinh sau mỗi cấp học. Sau cấp trung học cơ sở, học sinh có thể tiếp tục học trung học phổ thông hoặc lựa chọn các chương trình giáo dục nghề nghiệp phù hợp. Sau trung học phổ thông, học sinh có thể lựa chọn đại học, cao đẳng, trung cấp hoặc tham gia thị trường lao động. Việc lựa chọn cần dựa trên năng lực, nguyện vọng của học sinh và nhu cầu nhân lực của địa phương, xã hội.

Một thay đổi đáng chú ý khác là hướng nghiệp được chuyển từ một hoạt động mang tính phong trào sang nhiệm vụ thường xuyên của nhà trường, có đầu mối và nguồn lực thực hiện. Theo đó, cơ quan quản lý dự kiến tiếp tục hoàn thiện hướng dẫn chuyên môn, xây dựng kế hoạch hướng nghiệp theo lộ trình liên tục từ tiểu học đến trung học phổ thông, với nội dung phù hợp từng giai đoạn phát triển của học sinh.

Về đội ngũ, cần tập trung phát triển nhân lực làm công tác hướng nghiệp, xây dựng chuẩn năng lực, thúc đẩy bố trí vị trí việc làm liên quan đến tư vấn học sinh và tăng cường huy động chuyên gia tâm lý, giáo dục, doanh nghiệp tham gia hỗ trợ công tác này”, Tiến sĩ Trần Thế Sơn cho hay.

gdvn-ts-tran-the-son.jpg
Tiến sĩ Nguyễn Thế Sơn - Phó Vụ trưởng Vụ Giáo dục phổ thông (Bộ Giáo dục và Đào tạo) phát biểu tại hội thảo.

Bên cạnh đó, Tiến sĩ Trần Thế Sơn thông tin, Vụ Giáo dục phổ thông (Bộ Giáo dục và Đào tạo) sẽ nghiên cứu chuẩn hóa các công cụ đánh giá năng lực, sở thích, giá trị cá nhân và trải nghiệm của học sinh, nhằm giúp các nhà trường lựa chọn những công cụ phù hợp, tránh sử dụng các công cụ chưa được kiểm chứng.

Trong bối cảnh chuyển đổi số, một giải pháp được đặt ra là xây dựng cơ sở dữ liệu dùng chung về ngành nghề, cơ sở đào tạo, dự báo nhu cầu nhân lực và kết quả học tập của học sinh. Cơ sở dữ liệu này được kỳ vọng hỗ trợ học sinh, nhà trường và các bên liên quan có thêm thông tin phục vụ quá trình lựa chọn và tư vấn hướng nghiệp.

Công tác đánh giá hướng nghiệp cũng được định hướng đổi mới, chuyển từ đánh giá theo tỷ lệ phân luồng sang đánh giá khả năng tiếp cận dịch vụ hướng nghiệp, chất lượng tư vấn và mức độ phù hợp giữa lựa chọn của học sinh với năng lực, nguyện vọng của các em.

Ngoài ra, việc triển khai Thông tư 16 vẫn đặt ra nhiều yêu cầu về đội ngũ tư vấn, công cụ đánh giá, hệ thống dữ liệu và điều kiện tổ chức tại các nhà trường. Do đó, cần sự phối hợp của cơ quan quản lý, nhà trường, gia đình, cơ sở giáo dục nghề nghiệp, cơ sở giáo dục đại học, doanh nghiệp và các tổ chức liên quan để bảo đảm hướng nghiệp thực sự đặt học sinh vào vị trí trung tâm của quyền lựa chọn.

gdvn-ts-kim-thoa.jpg
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đinh Thị Kim Thoa - Giảng viên Khoa Giáo dục, Trường Đại học Giáo dục, Đại học Quốc gia Hà Nội trình bày tham luận.

Báo cáo đề dẫn hội thảo, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đinh Thị Kim Thoa - Giảng viên Khoa Giáo dục, Trường Đại học Giáo dục, Đại học Quốc gia Hà Nội đại diện nhóm nghiên cứu trình bày khảo sát hướng nghiệp trong các trường phổ thông sau 5 năm triển khai Chương trình Giáo dục phổ thông 2018 và những vấn đề đặt ra cho hướng nghiệp và phân luồng trong giai đoạn 2026-2031.

Theo đó, nghiên cứu tiếp cận giáo dục hướng nghiệp như một quá trình liên tục; quản trị giữ vai trò định hướng, điều phối; tổ chức thực hiện chuyển mục tiêu chương trình thành hoạt động; kết quả học sinh phản ánh mức độ đạt được. Nghiên cứu sử dụng điều tra bằng bảng hỏi kết hợp thống kê mô tả. Ba công cụ được thiết kế riêng cho cán bộ quản lý, giáo viên và học sinh. Khảo sát trực tuyến được triển khai qua hệ thống quản lý giáo dục tại các Sở Giáo dục và Đào tạo; dữ liệu được kiểm tra, làm sạch và chuẩn hóa trước khi phân tích.

Về kết quả đạt được, ở cấp quản trị, hướng nghiệp đã được đưa vào quản trị và dạy học thường xuyên, đồng thời bước đầu phát triển nhận thức và năng lực định hướng nghề nghiệp của học sinh. Kết quả nghiên cứu cho thấy giáo dục hướng nghiệp trong giai đoạn tới cần chuyển từ trọng tâm “triển khai hoạt động” sang “quản trị chất lượng và kết quả”, chú trọng mức độ tham gia, chất lượng trải nghiệm và năng lực định hướng nghề nghiệp của học sinh. Trọng tâm trước hết là tăng cường trải nghiệm nghề nghiệp và kết nối thực tế, xây dựng mạng lưới hợp tác ổn định với doanh nghiệp, cơ sở giáo dục nghề nghiệp, đại học và tổ chức nghề nghiệp.

Đồng thời, cần nâng cao các điều kiện bảo đảm, đặc biệt về nguồn lực, học liệu và năng lực đội ngũ. Về nội dung, cần phát triển đồng thời ba phương diện hiểu bản thân - hiểu nghề nghiệp - kỹ năng lựa chọn nghề.

Theo đánh giá, sau 5 năm triển khai Chương trình Giáo dục phổ thông 2018, giáo dục hướng nghiệp trong trường phổ thông đã có chuyển biến đáng kể về thể chế hoá, quản trị và tổ chức thực hiện. Tích hợp hướng nghiệp trong môn học đạt mức khá, cho thấy hướng nghiệp ngày càng gắn với dạy học thường xuyên. Tuy nhiên, chuyển biến chưa đồng đều, trải nghiệm nghề nghiệp vẫn là khâu hạn chế, trong khi phối hợp với doanh nghiệp và huy động nguồn lực xã hội chưa tương xứng với quản trị nội bộ.

Sau phần khai mạc, hội thảo bước vào 12 phiên tham luận, tập trung phân tích những vấn đề trọng tâm liên quan đến giáo dục, tâm lý học đường và công tác hướng nghiệp.

Thực trạng và giải pháp để tổ chức hướng nghiệp, phân luồng học sinh phổ thông

Tại phiên 1 của hội thảo, 6 tham luận tập trung phân tích thực trạng giáo dục hướng nghiệp tại các cơ sở giáo dục và địa phương hiện nay. Trong đó, Tiến sĩ khoa học Phạm Đỗ Nhật Tiến - Chuyên gia cao cấp về giáo dục trình bày tham luận với chủ đề “Giáo dục hướng nghiệp: Thông tư 16 và câu hỏi làm thế nào tổ chức thực hiện chất lượng và hiệu quả”.

Từ kinh nghiệm quốc tế cho thấy, cơ quan trung ương có vai trò quan trọng trong việc cung cấp khung hướng dẫn và công cụ triển khai. Tại Úc, sau Chiến lược giáo dục hướng nghiệp quốc gia năm 2019, Chính phủ ban hành Khung Phát triển Sự nghiệp làm cơ sở để các bang và nhà trường xây dựng chương trình phù hợp. Khung này chuyển trọng tâm từ “tư vấn việc làm ngắn hạn” sang phát triển năng lực quản lý sự nghiệp suốt đời. Các năng lực được xác định như chuẩn đầu ra, giúp địa phương và nhà trường cụ thể hoá hoạt động hướng nghiệp theo độ tuổi học sinh, đặc điểm địa phương và điều kiện thực tế.

Các lĩnh vực nội dung hoạt động hướng nghiệp gồm: Quản lý bản thân; Học tập và khám phá việc làm; Kiến tạo sự nghiệp. Theo cách tiếp cận này, để xây dựng Khung nội dung hướng nghiệp, Bộ Giáo dục và Đào tạo cần xem xét ban hành tài liệu làm rõ các năng lực mà học sinh cần đạt thông qua giáo dục hướng nghiệp theo cách tiếp cận mới của Thông tư 16. Trên cơ sở đó, sửa đổi, điều chỉnh và có thể làm mới chương trình hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp. Tiếp sau chương trình đổi mới đó, cũng cần biên soạn lại sách giáo khoa và sách giáo viên về hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp. Đây là những tài liệu nhất thiết phải có để đảm bảo cho các địa phương và nhà trường có cơ sở triển khai Thông tư 16 vừa thống nhất toàn quốc, vừa phù hợp với bối cảnh cụ thể của mình.

gdvn-ts-pham-do-nhat-tien.jpg
Tiến sĩ khoa học Phạm Đỗ Nhật Tiến - Chuyên gia cao cấp về giáo dục trình bày tham luận gắn với Thông tư số 16/2026/TT-BGDĐT.

Trình bày tham luận tại hội thảo, Tiến sĩ Hoàng Ngọc Vinh - nguyên Vụ trưởng Vụ Giáo dục chuyên nghiệp (Bộ Giáo dục và Đào tạo) đã nêu những yêu cầu đổi mới tư vấn hướng nghiệp trong trường phổ thông trước những biến đổi của thị trường lao động và sự phát triển nhanh của trí tuệ nhân tạo (AI).

Chương trình Giáo dục phổ thông 2018 đã dành vị trí rõ hơn cho hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp. Dù vậy, điểm học tập và điểm thi vẫn thường là căn cứ chủ yếu để định hướng học sinh; giáo dục nghề nghiệp đôi khi còn bị xem là lựa chọn cho nhóm có kết quả học tập thấp hơn. Bên cạnh đó, giáo viên hướng nghiệp phần lớn kiêm nhiệm; dữ liệu về người học, lộ trình đào tạo và thị trường lao động chưa được kết nối; công cụ số còn rời rạc. Vì vậy, hướng nghiệp cần chuyển từ hoạt động tư vấn mang tính thời điểm sang một quá trình giáo dục có hệ thống và liên tục.

Sự phát triển nhanh của AI càng làm yêu cầu đổi mới trở nên cấp thiết. AI không chỉ tạo ra nghề mới mà còn làm thay đổi nhiệm vụ, kỹ năng và phương thức làm việc trong nhiều nghề hiện có. Người học cần khả năng tự đánh giá, cập nhật thông tin, học lại và chuyển đổi nghề nghiệp trước những thay đổi của công nghệ, kinh tế và xã hội.

Từ đó, Tiến sĩ Hoàng Ngọc Vinh đã nghiên cứu và đề ra 5 nhiệm vụ, giải pháp thực hiện. Một là chuyển từ tư vấn cuối cấp sang giáo dục hướng nghiệp sớm và phát triển năng lực quản lý sự nghiệp. Hai là từ điểm số và cảm tính sang hồ sơ phát triển, dữ liệu lao động và công bằng lựa chọn. Ba là từ nhiệm vụ kiêm nhiệm sang hệ sinh thái và đội ngũ có chuẩn năng lực. Bốn là từ công cụ số rời rạc sang AI hỗ trợ có kiểm soát. Năm là chuyển từ phân luồng hành chính sang quản lý các lộ trình học tập suốt đời.

“Ưu tiên của Việt Nam không phải là triển khai một hệ thống AI tự động “chọn nghề” mà là xây dựng hạ tầng, chuẩn năng lực và cơ chế quản trị để giúp học sinh chủ động ra quyết định, điều chỉnh lộ trình và duy trì khả năng thích ứng trong một thị trường lao động liên tục biến đổi”, Tiến sĩ Hoàng Ngọc Vinh cho hay.

gdvn-ts-tran-quang-bao.jpg
Ông Trần Quang Bảo - Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh An Giang trình bày tham luận tại hội thảo.

Tiếp nối hội thảo, ông Trần Quang Bảo - Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh An Giang đã trình bày tham luận “Thực trạng hướng nghiệp và phân luồng học sinh trung học tại tỉnh An Giang”. Nghiên cứu được thực hiện nhằm mô tả mức độ tiếp cận và kết quả hướng nghiệp của học sinh trung học tại tỉnh An Giang; so sánh thực trạng giữa học sinh trung học cơ sở và trung học phổ thông; và đề xuất chính sách để nâng cao hiệu quả hướng nghiệp, phân luồng.

Theo báo cáo, hoạt động hướng nghiệp đã hiện diện tương đối rộng trong các cơ sở giáo dục trung học tại tỉnh An Giang với tỷ lệ trên 80% được tiếp cận thông tin và tư vấn. Kết quả này phù hợp với định hướng tích hợp hướng nghiệp vào chương trình và hoạt động giáo dục theo Thông tư 16.

Từ nghiên cứu, Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh An Giang đề xuất 5 khuyến nghị.

Thứ nhất, ưu tiên hướng nghiệp sớm ở trung học cơ sở. Mỗi học sinh lớp 8-9 cần được tiếp cận thông tin về tất cả lộ trình sau trung học cơ sở, được tư vấn ít nhất một lần theo hồ sơ năng lực - sở thích và có tối thiểu 1 hoạt động trải nghiệm nghề có phản hồi trước khi đăng ký tuyển sinh.

Thứ hai, chuyển từ ngày hội đơn lẻ sang chương trình liên tục. Nhà trường cần xây dựng kế hoạch hướng nghiệp theo từng khối lớp, có mục tiêu đầu ra, lịch hoạt động, người phụ trách và cơ chế theo dõi sự tiến bộ của học sinh.

Thứ ba, thiết lập mạng lưới trải nghiệm nghề cấp tỉnh. Sở Giáo dục và Đào tạo có thể kết nối trường phổ thông với cơ sở nghề nghiệp, doanh nghiệp, hợp tác xã, làng nghề và trung tâm dịch vụ việc làm theo cụm địa bàn; ưu tiên các lĩnh vực kinh tế biển, du lịch, logistics, chế biến, nông nghiệp công nghệ cao và chuyển đổi số.

Thứ tư, chuyên nghiệp hóa tư vấn và dữ liệu. Bồi dưỡng giáo viên về tâm lý nghề nghiệp, tư vấn cá nhân, thị trường lao động và lộ trình liên thông; xây dựng hồ sơ hướng nghiệp số nhưng phải bảo vệ dữ liệu cá nhân và không sử dụng kết quả trắc nghiệm để dán nhãn học sinh.

Thứ năm, theo dõi kết quả phân luồng thực chất. Cần bổ sung cơ sở dữ liệu theo dõi học sinh sau lớp 9 và lớp 12, bao gồm lộ trình đã chọn, mức độ duy trì, chuyển đổi giữa các luồng, tốt nghiệp, việc làm và mức độ hài lòng. Chỉ tiêu đánh giá không nên dừng ở số buổi tư vấn hoặc tỷ lệ tuyển sinh.

Phối hợp cùng doanh nghiệp, đẩy mạnh trải nghiệm thực tế cho học sinh

Kết thúc phiên thảo luận 1, các tham luận tại phiên 2 của hội thảo tập trung phân tích mối liên kết giữa cơ sở giáo dục và doanh nghiệp, đồng thời làm rõ vai trò, cơ chế phối hợp của doanh nghiệp trong công tác giáo dục hướng nghiệp.

Thạc sĩ Phan Thị Hằng Hải - Hiệu trưởng Trường Trung học phổ thông Kim Ngọc (tỉnh Phú Thọ) đã trình bày tham luận với chủ đề “Xây dựng mô hình hướng nghiệp cá thể hóa cho học sinh trung học phổ thông bằng trí tuệ nhân tạo (AI) gắn với sự phối hợp giữa nhà trường - gia đình - doanh nghiệp”. Nghiên cứu đã thực hiện khảo sát 300 học sinh tại Trường Trung học phổ thông Kim Ngọc, 200 học sinh Trường Trung học phổ thông Xuân Hoà và 100 học sinh Trường Trung học phổ thông Ngô Gia Tự.

Kết quả khảo sát cho thấy, có 40% học sinh đánh giá tích cực về chương trình hướng nghiệp. Điều này cho thấy hoạt động hướng nghiệp đã có tác động nhưng mức độ đáp ứng nhu cầu còn hạn chế. Hoạt động hướng nghiệp vẫn thiên về nhu cầu cung cấp thông tin tuyển sinh, giới thiệu ngành nghề; việc cá thể hóa, khai thác dữ liệu người học, trải nghiệm nghề nghiệp và phối hợp giữa nhà trường, gia đình, doanh nghiệp còn hạn chế.

Vì vậy, cần đổi mới hướng nghiệp theo hướng cá thể hoá, dựa trên dữ liệu và tăng cường phối hợp các bên, tạo cơ sở ứng dụng AI nhằm nâng cao chất lượng tư vấn và hỗ trợ học sinh lựa chọn lộ trình phù hợp. Cần mở rộng nghiên cứu, hoàn thiện dữ liệu và công cụ đánh giá, áp dụng thiết kế trước - sau hoặc nhóm so sánh, đồng thời bảo đảm đạo đức , bảo mật và vai trò của giáo viên, gia đình.

gdvn-pgs-chu-cam-tho.jpg
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Chu Cẩm Thơ - Chủ tịch Mạng lưới Quản lý Giáo dục không biên giới (EdulightenUp) trình bày về mô hình liên kết đại học - phổ thông - doanh nghiệp tại hội thảo.

Trình bày tham luận “Kiến tạo mô hình liên kết đại học - phổ thông - doanh nghiệp: Kinh nghiệm thực tiễn từ dự án Tam giác hướng nghiệp của mạng lưới quản lý giáo dục không biên giới”, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Chu Cẩm Thơ - Chủ tịch Mạng lưới Quản lý Giáo dục không biên giới (EdulightenUp) cho biết, dự án được khởi xướng từ tháng 10/2021. Điểm cốt lõi của dự án là tập trung kiến tạo cấu trúc liên kết hữu cơ chặt chẽ giữa 3 đỉnh: trường phổ thông - trường đại học - doanh nghiệp, lấy năng lực tự hướng nghiệp của học sinh ra làm trung tâm.

Để mô hình liên kết “đại học - phổ thông - doanh nghiệp” không dừng lại ở những dự án ngắn hạn mà trở thành một hệ sinh thái hướng nghiệp bền vững ở Việt Nam, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Chu Cẩm Thơ khuyến nghị triển khai đồng bộ ba nhóm giải pháp trọng tâm gồm: Hoàn thiện hành lang pháp lý và cơ chế chính sách quốc gia; Chuẩn hóa và “mở” chương trình phối hợp giữa trường đại học và phổ thông; Xây dựng mạng lưới số kết nối và quản trị hệ sinh thái hướng nghiệp.

Việc thực hiện đồng bộ 3 khuyến nghị trên dựa trên nguyên tắc “bình đẳng, cùng có lợi và lấy người học làm trung tâm” chính là chìa khoá để kiến tạo một mô hình liên kết vững chắc, góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực quốc gia trước những biến động của thời đại mới.

Bài và ảnh: Thúy Hiền