Chương trình “Hỗ trợ học sinh, sinh viên khởi nghiệp giai đoạn 2026 - 2035” trên địa bàn thành phố Hà Nội đặt mục tiêu đến giai đoạn 2026 - 2030, có 90% sinh viên hoàn thành một học phần hoặc ít nhất một khóa kỹ năng khởi nghiệp. Mục tiêu này mở ra yêu cầu mở rộng giáo dục khởi nghiệp tới số đông sinh viên, nhưng đồng thời đặt ra câu hỏi về chất lượng: sinh viên được học những gì, hình thành năng lực nào và có cơ hội vận dụng những năng lực đó vào thực tế ra sao?
Trao đổi với phóng viên, một số cơ sở giáo dục đại học nhận định, để mục tiêu 90% không dừng ở một tỷ lệ trong báo cáo, giáo dục khởi nghiệp cần được đo lường bằng nhiều chiều hơn số lượng người tham gia, số ý tưởng hay số giải thưởng. Trong đó, việc kiểm chứng nhu cầu thị trường, khả năng thử nghiệm, điều chỉnh dự án, giải quyết vấn đề và vận dụng tư duy khởi nghiệp trong nghề nghiệp cũng cần được coi là những kết quả quan trọng của quá trình đào tạo.
Không để các cuộc thi trở thành đích đến
Trao đổi với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, PGS.TS Đào Thị Thu Giang - Hiệu trưởng Trường Đại học Đại Nam cho rằng, các cuộc thi đã góp phần đưa khởi nghiệp đến gần sinh viên hơn. Tuy nhiên, tại nhiều nơi, hoạt động giáo dục khởi nghiệp vẫn tập trung vào việc hình thành ý tưởng và chuẩn bị cho cuộc thi, trong khi quá trình kiểm chứng, hoàn thiện và phát triển dự án sau cuộc thi chưa được đầu tư tương xứng.
Theo PGS.TS Đào Thị Thu Giang, một cuộc thi có thể được đánh giá thông qua số lượng hồ sơ tham gia, chất lượng phần trình bày hoặc kết quả trao giải. Tuy nhiên, những chỉ số này chưa đủ để phản ánh hiệu quả của giáo dục khởi nghiệp.
Điều cần quan tâm hơn là sinh viên có tiếp cận khách hàng thực tế hay không, có điều chỉnh giải pháp dựa trên dữ liệu thu được hay không và dự án có tiếp tục được triển khai sau cuộc thi hay không.
PGS.TS Đào Thị Thu Giang cho biết, Social Innovation Launch (SiL) - cuộc thi khởi nghiệp xã hội do Trung tâm việc làm và khởi nghiệp sinh viên, Trường Đại học Đại Nam tổ chức năm 2025 thu hút 350 hồ sơ đến từ 32 trường đại học, trong đó có hai dự án tiếp tục được triển khai trên thị trường. Qua đó cho thấy sức hút của sân chơi khởi nghiệp, nhưng việc chỉ có hai dự án tiếp tục triển khai cũng đặt ra yêu cầu phải quan tâm nhiều hơn đến giai đoạn sau cuộc thi. Số lượng hồ sơ tham gia không thể được xem là chỉ báo thay thế cho khả năng tồn tại và phát triển của dự án.
Từ thực tế này, Trung tâm Việc làm và Khởi nghiệp sinh viên, Trường Đại học Đại Nam, đang gắn SiL với hoạt động ươm tạo, lựa chọn những dự án có tiềm năng để tiếp tục hỗ trợ dựa trên kết quả triển khai thực tế, thay vì chỉ căn cứ vào thứ hạng tại cuộc thi.
"Các chương trình khởi nghiệp sinh viên nên công bố thêm số dự án còn hoạt động sau 6 tháng và một năm. Khi kết quả sau cuộc thi được đo lường nghiêm túc, cách thức tổ chức và hỗ trợ dự án sẽ có thêm cơ sở để điều chỉnh theo hướng thực chất hơn", PGS.TS Đào Thị Thu Giang cho hay.
Một vấn đề khác được đặt ra là cách đánh giá những dự án không đi đến thành công. PGS.TS Đào Thị Thu Giang cho rằng, cần chấp nhận việc một số dự án sinh viên thất bại trong quá trình thử nghiệm nếu các em chứng minh được quá trình kiểm chứng giả định một cách nghiêm túc. Bởi kiểm chứng một giả định đồng nghĩa với việc chấp nhận khả năng giả định đó có thể sai. Nếu chỉ những dự án thành công mới được đánh giá cao, sinh viên có thể có xu hướng lựa chọn phương án an toàn hoặc không muốn công khai những kết quả bất lợi. Do đó, điều cần đánh giá không chỉ là dự án có tiếp tục hay không mà còn là chất lượng của quá trình ra quyết định.
Sinh viên cần xác định rõ giả định ban đầu, phương pháp kiểm chứng, dữ liệu thu được và căn cứ để tiếp tục, dừng lại hoặc chuyển hướng. Một nhóm tiếp xúc với khách hàng thực tế, phát hiện nhu cầu không đủ lớn và quyết định dừng dự án vẫn có thể đã trải qua một quá trình học tập nghiêm túc. Tuy nhiên, chấp nhận thất bại cần đi cùng kỷ luật thử nghiệm. Nguồn lực nên được cấp theo từng mốc; kết quả ở mốc trước là căn cứ để quyết định có tiếp tục đầu tư ở mốc sau hay không. Cách làm này vừa tạo điều kiện cho sinh viên thử nghiệm, vừa bảo đảm nguồn lực được sử dụng có trách nhiệm.
“Nhà trường cũng cần giúp sinh viên hiểu rằng dừng một dự án có căn cứ không đồng nghĩa với thất bại về năng lực cá nhân. Khả năng kiểm chứng, nhận diện sai lầm và đưa ra quyết định đúng lúc cũng là những năng lực quan trọng mà giáo dục khởi nghiệp cần hình thành”, Hiệu trưởng Trường Đại học Đại Nam cho hay.
Đo cả độ phủ và chiều sâu, không chỉ đếm số người tham gia
PGS.TS Đào Thị Thu Giang cho rằng, sự khác biệt giữa các trường về điều kiện đào tạo và khả năng hỗ trợ sinh viên có thể trở thành vấn đề nếu mục tiêu 90% chỉ được triển khai và đánh giá bằng tỷ lệ sinh viên tham gia hoạt động.
Cùng đạt một tỷ lệ tham gia nhưng trải nghiệm của sinh viên có thể rất khác nhau. Tham dự một chuyên đề là một hình thức tiếp cận, trong khi được học một học phần, làm việc với cố vấn, gặp doanh nghiệp và thử nghiệm giải pháp trên thị trường lại là những mức độ trải nghiệm khác.
Ngay tại Trường Đại học Đại Nam, theo PGS.TS Đào Thị Thu Giang, mức độ triển khai giáo dục khởi nghiệp cũng chưa đồng đều giữa các khối ngành. Khối Kinh tế và Công nghệ thông tin đã có học phần chính khóa, trong khi một số khối ngành khác chủ yếu triển khai thông qua tọa đàm và cuộc thi. Điều này cho thấy nâng tỷ lệ sinh viên được tiếp cận là cần thiết nhưng chưa đủ để bảo đảm chất lượng.
Theo PGS.TS Đào Thị Thu Giang, cần kết hợp chỉ tiêu về độ phủ với các chỉ báo về chiều sâu đào tạo, chẳng hạn sinh viên đã thực hiện những hoạt động kiểm chứng nào, nhận được hình thức hướng dẫn nào và hình thành những năng lực gì. Đồng thời, việc đánh giá cũng có thể tính đến mức tiến bộ của từng trường so với điều kiện xuất phát, thay vì chỉ so sánh một tỷ lệ tuyệt đối.
Về hỗ trợ, cần có học liệu, chương trình bồi dưỡng giảng viên và mạng lưới cố vấn dùng chung; ưu tiên nguồn lực cho những trường chưa có điều kiện xây dựng hệ sinh thái riêng. Các trường cũng có thể phối hợp tổ chức cuộc thi, vườn ươm và mạng lưới doanh nghiệp để sinh viên từ nhiều cơ sở đào tạo có cơ hội tiếp cận nguồn lực.
Đề cập đến nguồn lực cho khởi nghiệp sinh viên, PGS.TS Đào Thị Thu Giang cho rằng thiếu vốn, kinh nghiệm và quan hệ thị trường đều là những rào cản thực tế.
Với những dự án cần thiết bị hoặc thử nghiệm chuyên môn, vốn có thể là điều kiện để bắt đầu. Tuy nhiên, đối với nhiều dự án sinh viên ở giai đoạn đầu, vấn đề cần được quan tâm trước tiên là năng lực kiểm chứng nhu cầu thị trường. Một ý tưởng chưa được người dùng xác nhận thì việc cấp thêm vốn khó giải quyết được vấn đề cốt lõi. Sinh viên cần biết đặt giả định, tiếp xúc với khách hàng, thử nghiệm ở quy mô phù hợp và sử dụng kết quả để quyết định bước tiếp theo. Quá trình này đòi hỏi phương pháp đào tạo, sự hướng dẫn và khả năng tiếp nhận những phản hồi không thuận lợi.
Theo thông tin từ Trung tâm Việc làm và Khởi nghiệp sinh viên, Trường Đại học Đại Nam ghi nhận, hai dự án Tín chỉ Carbon và Ước Mơ Vùng Biên đã có hoạt động và khách hàng thực tế trước khi nhận các khoản hỗ trợ lần lượt 300 triệu đồng và 100 triệu đồng. Từ kinh nghiệm này, vấn đề được đặt ra là làm sao giúp nhiều sinh viên tạo được bằng chứng về nhu cầu thị trường và khả năng triển khai, qua đó đưa nguồn vốn vào đúng thời điểm.
PGS.TS Đào Thị Thu Giang cho biết, một việc nhà trường có thể thực hiện ngay là thay đổi cách đánh giá. Sinh viên cần được ghi nhận khi kiểm chứng nghiêm túc, kể cả khi kết quả dẫn đến quyết định dừng hoặc chuyển hướng dự án. Cùng với đó, doanh nghiệp và người dùng cần tham gia từ khâu đặt vấn đề đến phản hồi giải pháp để dự án không chỉ được đánh giá trong phạm vi lớp học.
Cách nhà trường đánh giá có thể tác động đến cách sinh viên hành động. Khi bằng chứng, năng lực học hỏi và chất lượng quyết định được coi trọng, giáo dục khởi nghiệp sẽ có điều kiện chuyển từ hoạt động mang tính phong trào sang đào tạo thực chất.
“Như vậy, mục tiêu mở rộng giáo dục khởi nghiệp tới 90% sinh viên không chỉ là câu chuyện về độ phủ. Điều quan trọng hơn là mỗi sinh viên được tiếp cận nội dung ở mức độ phù hợp, có cơ hội hình thành năng lực và nhìn thấy khả năng vận dụng những năng lực đó trong học tập cũng như nghề nghiệp. Cùng với đó, nhóm sinh viên có dự án và định hướng khởi nghiệp rõ ràng cần được tạo điều kiện để đi sâu hơn thông qua cố vấn, ươm tạo, thử nghiệm và kết nối thị trường.
Khi cách đánh giá chuyển từ việc đếm số người tham gia, số ý tưởng hay số giải thưởng sang theo dõi năng lực, quá trình kiểm chứng và khả năng ứng dụng trong thực tế, giáo dục khởi nghiệp sẽ có cơ sở để đi sâu hơn vào chất lượng thay vì chỉ mở rộng về số lượng”, Hiệu trưởng Trường Đại học Đại Nam chia sẻ.
Làm sao để mục tiêu 90% không chỉ là một con số?
Trao đổi về nội dung trên, TS. Phạm Đình Khuê - Phó Trưởng phòng Chính trị và Công tác sinh viên, Giám đốc Trung tâm Khởi nghiệp và Đổi mới sáng tạo, Trường Đại học Kiến trúc Hà Nội cho rằng, vấn đề không chỉ là làm thế nào đạt tỷ lệ 90%, mà trước hết cần xác định sinh viên được học khởi nghiệp để hình thành những năng lực gì.
Theo TS. Phạm Đình Khuê, trong giáo dục, nếu chỉ đo lường bằng số lượng thì có thể đạt được số lượng nhưng chưa chắc bảo đảm chất lượng. Vì vậy, mục tiêu 90% chỉ có ý nghĩa khi khái niệm “được học” được hiểu đúng.
TS. Phạm Đình Khuê dẫn Khung nội dung kiến thức, kỹ năng về khởi nghiệp kinh doanh dành cho học sinh, sinh viên ban hành kèm theo Quyết định 2650/QĐ-BGDĐT. Theo thầy Khuê, khung này được thiết kế theo hướng mở, không quy định bổ sung chương trình, môn học, mô-đun, học phần hoặc số tín chỉ bắt buộc ngoài quy định của cấp có thẩm quyền.
Khung nội dung không thay thế chương trình giáo dục, chương trình đào tạo hiện hành mà có thể được nghiên cứu, lựa chọn và tích hợp vào các môn học, hoạt động trải nghiệm hoặc dự án phù hợp. Việc đánh giá cũng được định hướng dựa trên những minh chứng về sự tiến bộ, hồ sơ dự án, nhật ký thử nghiệm, sản phẩm và phản biện, thay vì chỉ dựa vào bài kiểm tra ghi nhớ.
"Tuy nhiên, rủi ro trong quá trình triển khai vẫn rất lớn. Nếu nhà trường phải báo cáo tỷ lệ 90% sinh viên đã hoàn thành, một cách triển khai thuận tiện về quản lý có thể là mở một học phần hai tín chỉ, giảng dạy lý thuyết theo slide và tổ chức thi trắc nghiệm cuối kỳ", TS. Khuê nhận định.
Theo TS. Khuê, cách làm này có thể đáp ứng chỉ tiêu về số lượng nhưng chưa chắc đạt mục tiêu về năng lực. Khi đó, sinh viên có thể học để qua môn thay vì hình thành khả năng vận dụng trong thực tế.
“Theo tôi, cần thay đổi cách đo lường. Thay vì chỉ đếm số sinh viên đã học, cần đánh giá mức độ thay đổi về năng lực thông qua khảo sát trước và sau quá trình học, đánh giá đồng đẳng, phản hồi của giảng viên và theo dõi dài hạn sau khi sinh viên tốt nghiệp”, TS. Phạm Đình Khuê nhận định.
Về mục tiêu 90%, TS. Phạm Đình Khuê cho rằng, nên hiểu đây là tỷ lệ sinh viên được tiếp cận với tư duy khởi nghiệp theo nghĩa rộng, thông qua nhiều con đường và ở nhiều mức độ khác nhau, chứ không phải tất cả đều phải học một môn bắt buộc. Một sinh viên sau khi học khởi nghiệp nhưng quyết định không thành lập doanh nghiệp vẫn có thể đạt được kết quả nếu các em có khả năng tự tạo việc làm, thích ứng với thay đổi và giải quyết vấn đề tốt hơn.
Việc thành lập doanh nghiệp, thương mại hóa sản phẩm hoặc tạo doanh thu không phải là yêu cầu bắt buộc đối với mọi sinh viên. Giá trị của giáo dục khởi nghiệp còn nằm ở việc phát triển tư duy thiết kế, tư duy sáng tạo, tư duy tài chính phù hợp, năng lực tạo giá trị, tinh thần tự chủ, trách nhiệm xã hội và khả năng thích ứng. Đây là những năng lực có thể được sử dụng trong nhiều lĩnh vực nghề nghiệp khác nhau.
“Một bác sĩ biết cải tiến quy trình chăm sóc bệnh nhân, một giáo viên biết thiết kế phương pháp giảng dạy mới hay một kỹ sư biết đề xuất giải pháp tiết kiệm năng lượng đều có thể đang vận dụng tư duy khởi nghiệp, dù họ không thành lập doanh nghiệp”, TS. Phạm Đình Khuê nhận định.
Theo T.S Phạm Đình Khuê, các chỉ số thường được sử dụng để đánh giá hoạt động khởi nghiệp như số doanh nghiệp thành lập, số giải thưởng cuộc thi hay số vốn huy động chưa phản ánh đầy đủ sự thay đổi về năng lực của sinh viên.
Điều này có thể tạo ra áp lực khiến nhà trường và giảng viên tập trung vào nhóm nhỏ sinh viên có dự án, trong khi mục tiêu phát triển năng lực cho số đông lại chưa được chú trọng tương xứng. Sinh viên cũng có thể hình thành suy nghĩ rằng chỉ khi mở công ty hoặc đoạt giải mới được coi là thành công. Trong khi đó, phần lớn sinh viên sau khi tốt nghiệp sẽ làm việc với tư cách nhân viên, chuyên gia, công chức hoặc đảm nhiệm những vị trí nghề nghiệp khác, chứ không nhất thiết trở thành chủ doanh nghiệp.
Tuy nhiên, dù làm công việc nào, họ vẫn cần khả năng nhận diện vấn đề, tư duy thử nghiệm, kỹ năng huy động nguồn lực và ý thức trách nhiệm.
Vì vậy, giáo dục khởi nghiệp cần được đánh giá bằng những chỉ số rộng hơn. Nhà trường có thể đo lường sự thay đổi năng lực trước và sau khi sinh viên tham gia hoạt động, theo dõi việc vận dụng những năng lực này sau tốt nghiệp và ghi nhận sự thay đổi trong cách sinh viên tiếp cận vấn đề, làm việc nhóm, quản lý dự án, thay vì chỉ nhìn vào sản phẩm cuối cùng.
Theo TS. Phạm Đình Khuê, thành công của giáo dục khởi nghiệp không chỉ nằm ở số lượng doanh nghiệp được thành lập mà còn ở việc sinh viên tốt nghiệp có tư duy chủ động, khả năng thích ứng và tinh thần trách nhiệm tốt hơn.
Phân định rõ vai trò của Nhà nước, trường đại học và doanh nghiệp
Trước yêu cầu mở rộng giáo dục khởi nghiệp tới 90% sinh viên, TS. Phạm Đình Khuê cho rằng không nên đặt vấn đề theo hướng phải lựa chọn giữa việc phổ cập cho số đông và đầu tư chuyên sâu cho một nhóm nhỏ.
Theo thầy Khuê, đây là hai tầng có thể bổ sung cho nhau. Một tầng là giáo dục nền tảng cho số đông sinh viên nhằm phát triển tư duy tạo giá trị, năng lực sáng tạo, tinh thần chủ động và khả năng giải quyết vấn đề. Nội dung này có thể được tích hợp vào các môn học và hoạt động chung với quy mô lớn. Tầng còn lại dành cho nhóm sinh viên có định hướng rõ ràng, tập trung vào phát triển dự án thực tế, kỹ năng thị trường, tài chính, pháp lý và vận hành thông qua ươm tạo, cố vấn 1:1 và kết nối doanh nghiệp.
Tỷ lệ phân bổ nguồn lực, theo TS. Phạm Đình Khuê, cần phụ thuộc vào điều kiện của từng trường.
Với trường có nguồn lực hạn chế, có thể ưu tiên xây dựng nền tảng trước, dành khoảng 70-80% nguồn lực cho hoạt động chung và 20-30% cho đào tạo chuyên sâu. Trong khi đó, trường có hệ sinh thái mạnh có thể triển khai song song hai hướng, tận dụng doanh nghiệp, cựu sinh viên và chuyên gia để giảm chi phí cho hoạt động chuyên sâu.
Các trường đang ở giai đoạn thí điểm cũng có thể tập trung vào một số ngành, một số nhóm sinh viên trước khi mở rộng, tránh đầu tư dàn trải, thiếu chiều sâu hoặc chạy theo những kết quả bề mặt.
Để xây dựng một hệ sinh thái khởi nghiệp sinh viên, TS. Phạm Đình Khuê cho rằng cần phân định rõ vai trò của từng chủ thể.
Theo đó, Nhà nước giữ vai trò kiến tạo và điều phối thông qua việc ban hành khung chính sách, định hướng, bố trí nguồn lực công, tạo cơ chế phù hợp về thuế, tín dụng và không gian, đồng thời theo dõi, đánh giá; Trường đại học giữ vai trò thực thi và kết nối, từ tích hợp giáo dục khởi nghiệp vào chương trình, tổ chức đào tạo, tư vấn, ươm tạo đến gắn khởi nghiệp với nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ; Doanh nghiệp và thị trường giữ vai trò cung cấp bài toán thực tiễn và kiểm chứng giá trị. Doanh nghiệp có thể cung cấp dữ liệu, chuyên gia cố vấn, hỗ trợ thử nghiệm, phản biện dự án và đánh giá giá trị thị trường.
Trong bối cảnh Hà Nội có mật độ trường đại học cao, TS. Phạm Đình Khuê cho rằng đây là điều kiện để xây dựng mạng lưới liên trường, chia sẻ nguồn lực và tổ chức hoạt động chung.
TS. Phạm Đình Khuê đề xuất Nhà nước tập trung hoàn thiện khung pháp lý, cơ chế hỗ trợ; đầu tư đào tạo giảng viên, xây dựng học liệu mở dùng chung; đồng thời thiết lập hệ thống theo dõi, đánh giá dựa trên tác động thực tế. Với các trường đại học, cần xây dựng đội ngũ cán bộ tư vấn chuyên trách, có cơ chế mời doanh nhân, chuyên gia tham gia giảng dạy và tận dụng không gian sẵn có để phát triển không gian sáng tạo.
Doanh nghiệp có thể tham gia thông qua những hoạt động cụ thể như cung cấp bài toán thực tế, cử chuyên gia chia sẻ, tiếp nhận sinh viên thực tập thay vì chỉ ký những thỏa thuận hợp tác lớn nhưng thiếu hoạt động thực chất. Từ góc nhìn này, mỗi chủ thể cần thực hiện đúng vai trò của mình. Nhà nước không thể tổ chức đào tạo thay trường; trường không thể kiểm chứng thị trường thay doanh nghiệp; doanh nghiệp cũng không thể giáo dục thay nhà trường.
Một vấn đề khác là không phải sinh viên nào cũng có mong muốn thành lập doanh nghiệp. Vì vậy, giáo dục khởi nghiệp cần được định vị gần hơn với nhu cầu nghề nghiệp của số đông.
Do đó, nội dung giáo dục khởi nghiệp cần gắn với từng chuyên ngành cụ thể. Sinh viên Y có thể vận dụng tư duy này để cải tiến quy trình chăm sóc bệnh nhân; sinh viên Luật có thể sử dụng trong tư vấn cho doanh nghiệp; sinh viên Sư phạm có thể áp dụng để thiết kế chương trình học mới; sinh viên Kỹ thuật có thể vận dụng vào thiết kế sản phẩm và cải tiến quy trình sản xuất.