Chiều 23/10, tại Trường Đại học Công nghệ Kỹ thuật Vinh (Nghệ An), Câu lạc bộ Khối Sư phạm Kỹ thuật (trực thuộc Hiệp hội Các trường đại học, cao đẳng Việt Nam) tổ chức tọa đàm năm 2026 với chủ đề “Đột phá phát triển giáo dục và đào tạo theo Nghị quyết số 71-NQ/TW của Bộ Chính trị: Vai trò của các trường đại học kỹ thuật”.
Tham dự tọa đàm, về phía Hiệp hội Các trường đại học, cao đẳng Việt Nam có Nhà báo Nguyễn Tiến Bình - Phó Chủ tịch phụ trách Hiệp hội, Tổng biên tập Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam; ông Phạm Ngọc Lan - Ủy viên Thường vụ, Trưởng ban Công tác Hội viên.
Về phía đơn vị đăng cai có Tiến sĩ Thái Anh Tuấn - Hiệu trưởng Trường Đại học Công nghệ Kỹ thuật Vinh, cùng các thành viên Ban Giám hiệu, đại diện lãnh đạo các đơn vị, phòng, ban và đại diện các trường thuộc khối sư phạm kỹ thuật.
Đổi mới đào tạo gắn với nhu cầu nhân lực kỹ thuật chất lượng cao
Phát biểu khai mạc tọa đàm, Tiến sĩ Thái Anh Tuấn nhấn mạnh Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị đặt ra yêu cầu phát triển giáo dục và đào tạo thực chất, toàn diện, hiện đại; nâng cao chất lượng nguồn nhân lực; đẩy mạnh nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; gắn kết chặt chẽ giáo dục đại học với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội.
Theo Tiến sĩ Thái Anh Tuấn, sự phát triển của trí tuệ nhân tạo (AI), công nghệ số, tự động hóa công nghiệp, hệ thống điện thông minh và công nghệ xanh đang làm thay đổi hoạt động sản xuất và quản trị. Bối cảnh này đòi hỏi nguồn nhân lực kỹ thuật chất lượng cao, có tư duy hệ thống, kỹ năng thực hành vững vàng và khả năng thích ứng với thay đổi công nghệ.
Từ yêu cầu đó, thầy Tuấn đề xuất bốn định hướng đột phá: đổi mới chương trình và phương pháp đào tạo theo chuẩn đầu ra hiện đại; đẩy mạnh nghiên cứu khoa học, đổi mới sáng tạo và chuyển giao công nghệ; phát triển đội ngũ giảng viên, nâng cao năng lực quản trị đại học; tăng cường hợp tác chiến lược giữa nhà trường, doanh nghiệp và đối tác quốc tế.
Trong đào tạo, các trường cần tăng tính tích hợp, liên ngành, thời lượng thực hành và gắn hoạt động học tập với dự án thực tế. Việc ứng dụng AI, công nghệ số và công cụ mô phỏng cần hướng tới phát triển năng lực tự học, tư duy độc lập và khả năng giải quyết vấn đề của người học. Hoạt động nghiên cứu cũng cần gắn với nhu cầu thực tiễn của doanh nghiệp, địa phương và thúc đẩy thương mại hóa sản phẩm khoa học, công nghệ.
Đáng chú ý, Tiến sĩ Thái Anh Tuấn đề xuất chuyển hoạt động hợp tác giữa các trường thành viên Câu lạc bộ từ trao đổi kinh nghiệm sang hợp tác chiến lược với mục tiêu và sản phẩm cụ thể. Các trường có thể chia sẻ học liệu số, phòng thí nghiệm, phần mềm mô phỏng; hình thành nhóm nghiên cứu liên trường; xây dựng cơ chế công nhận tín chỉ tương đương và trao đổi giảng viên, sinh viên.
Bốn tham luận về đào tạo, quản trị đại học và ứng dụng AI
Bốn tham luận tại tọa đàm tập trung vào mô hình đào tạo nhà giáo giáo dục nghề nghiệp, quản trị đại học trong kỷ nguyên AI, phát triển năng lực số cho nhà giáo và tích hợp AI với tài nguyên giáo dục mở trong dạy học STEM.
Mở đầu, Tiến sĩ Nguyễn Hữu Hợp - Trường Đại học Công nghệ Kỹ thuật Hưng Yên, đề xuất mô hình đào tạo nhà giáo giáo dục nghề nghiệp trình độ đại học tại các trường đại học công nghệ kỹ thuật.
Theo Tiến sĩ Nguyễn Hữu Hợp, hai ngành Sư phạm Kỹ thuật công nghiệp và Sư phạm Kỹ thuật nông nghiệp hiện chủ yếu đào tạo giáo viên giảng dạy nội dung Công nghệ trong giáo dục phổ thông, chưa đồng nhất với yêu cầu đào tạo nhà giáo giáo dục nghề nghiệp. Trong khi đó, đội ngũ này cần đồng thời có năng lực thực hiện nghề và năng lực dạy nghề.
Từ thực tế đó, tác giả đề xuất đào tạo cử nhân sư phạm giáo dục nghề nghiệp theo hướng nối tiếp. Người học tích lũy nền tảng chuyên môn nghề trong hai năm đầu, sau đó tiếp tục chương trình tích hợp kiến thức nghề, nghiệp vụ sư phạm, thực hành nghề và thực tập sư phạm.
Với tham luận “Đại học trong kỷ nguyên tác tử AI: Từ đột phá lực lượng sản xuất đến thiết kế lại quan hệ sản xuất”, Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Huy Bằng - Hiệu trưởng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Nam Định, đặt vấn đề xem xét lại cách tổ chức, quản lý và phân phối thành quả lao động khi con người có thể cộng tác trực tiếp với các tác tử AI để thực hiện công việc trí óc.
Thầy Bằng nhấn mạnh ba nguyên tắc: con người giữ vai trò quyết định; quan hệ sản xuất phải phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất; sứ mạng của trường đại học phải dẫn dắt việc ứng dụng công nghệ. Đầu tư AI cần phục vụ nhiệm vụ đào tạo, nghiên cứu và phục vụ xã hội, không chạy theo số lượng ứng dụng hay thiết bị.
Đối với cơ quan quản lý nhà nước, Giáo sư Nguyễn Huy Bằng đề xuất xây dựng khung phân quyền cho tác tử AI trong giáo dục đại học, xác định rõ những công việc con người bắt buộc phải quyết định; hoàn thiện hướng dẫn về quyền đối với dữ liệu giáo dục và tài sản trí tuệ có sự hỗ trợ của AI. Việc giao nhiệm vụ, đặt hàng và phân bổ ngân sách cần gắn với kết quả đầu ra, sứ mạng, chất lượng và hiệu quả hoạt động của từng trường.
Ở góc độ phát triển năng lực số cho nhà giáo, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Bùi Văn Hồng - Trường Đại học Công nghệ Kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh (HCM-UTE), trình bày tham luận về Giao thức Thích ứng Nhận thức (Cognitive Adaptation Protocol - CAP).
Theo thầy Bùi Văn Hồng, việc học sinh dùng AI tạo sinh để hoàn thành bài tập có thể làm giảm khả năng tự học và tư duy độc lập. CAP được đề xuất nhằm hỗ trợ giáo viên thiết kế trợ lý AI theo định hướng sư phạm. Thay vì cung cấp đáp án, trợ lý đặt câu hỏi, gợi mở từng bước để người học tự tìm cách giải quyết vấn đề.
Tác giả kiến nghị bồi dưỡng giáo viên về thiết kế hoạt động học tập có ứng dụng AI, thí điểm công nhận chứng chỉ ngắn hạn dựa trên minh chứng học tập số. Việc đánh giá năng lực số của giáo viên cần gắn với hoạt động thực tế trong lớp học và sự tiến bộ trong tư duy độc lập của học sinh.
Tham luận cuối cùng, Tiến sĩ Lê Trọng Phong - Trường Đại học Công nghệ Kỹ thuật Vinh, đề xuất mô hình tích hợp AI và tài nguyên giáo dục mở (OER) trong dạy học STEM tại các trường đại học công nghệ kỹ thuật.
Mô hình hướng tới sử dụng AI để hỗ trợ xử lý thông tin, kết hợp nguồn học liệu mở để sinh viên tham khảo, đối chiếu, giải quyết nhiệm vụ STEM và kiểm chứng kết quả bằng minh chứng kỹ thuật. Người học vẫn phải chủ động lựa chọn phương án, kiểm chứng thông tin và chịu trách nhiệm với kết quả học tập.
Tiến sĩ Lê Trọng Phong đề xuất các cơ sở đào tạo hướng dẫn việc sử dụng AI trong dạy học, nghiên cứu và đánh giá; hỗ trợ giảng viên, sinh viên tiếp cận tài nguyên giáo dục mở có nguồn gốc và giấy phép rõ ràng. Tuy nhiên, tác giả lưu ý mô hình chưa được tham vấn chuyên gia và kiểm định trong thực tiễn, do đó, cần tiếp tục đánh giá tính khả thi, hiệu quả trước khi khuyến nghị áp dụng rộng rãi.
Làm rõ sứ mạng đào tạo và tăng cường liên kết giữa các trường
Tại phiên thảo luận, các đại biểu tập trung vào định hướng phát triển của các trường đại học công nghệ kỹ thuật, mối quan hệ giữa đào tạo nhân lực kỹ thuật và đào tạo nhà giáo giáo dục nghề nghiệp, cùng yêu cầu phối hợp trong phát triển chương trình, học liệu và ứng dụng công nghệ giáo dục.
Theo Giáo sư Nguyễn Huy Bằng, Quyết định số 2249/QĐ-BGDĐT ngày 31/7/2026 của Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc phê duyệt điều chỉnh Quy hoạch mạng lưới cơ sở giáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp công lập thời kỳ 2021–2030, tầm nhìn đến năm 2050 đã đặt ra định hướng tái cấu trúc các trường đại học sư phạm kỹ thuật thành cơ sở giáo dục đại học đa ngành, đa lĩnh vực, lấy công nghệ và kỹ thuật làm trọng tâm, đồng thời tiếp tục giữ vai trò nòng cốt trong đào tạo giáo viên, giảng viên giáo dục nghề nghiệp.
Từ đó, Giáo sư Bằng cho rằng, các trường cần xác định rõ vị trí việc làm và yêu cầu năng lực của giáo viên, giảng viên tại các cơ sở giáo dục nghề nghiệp, từ trường cao đẳng, trung cấp đến trường trung học nghề và trung tâm giáo dục thường xuyên. Trên cơ sở đó, việc xây dựng chương trình đào tạo mới có thể đáp ứng sát hơn nhu cầu thực tế, thay vì chỉ giới hạn trong các ngành sư phạm kỹ thuật hoặc sư phạm công nghệ hiện có.
Thầy Bằng cũng lưu ý doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thường quan tâm đến khả năng thực hiện công việc của người lao động, trong khi bằng cấp không phải lúc nào cũng là yếu tố quyết định. Ở các vị trí nghiên cứu và phát triển, doanh nghiệp cần kỹ sư, chuyên gia có năng lực cao, nhưng số lượng vị trí này không nhiều.
Do đó, các trường cần xác định rõ những nhóm nhân lực mà hệ thống giáo dục nghề nghiệp cần đào tạo để cung ứng cho thị trường lao động. Việc xây dựng chương trình đào tạo giáo viên, giảng viên cần bám sát chuẩn cơ sở giáo dục nghề nghiệp, chuẩn giảng viên và các quy định về mã ngành đào tạo có liên quan.
Từ đặc thù của lĩnh vực kỹ thuật, thầy Bằng gợi ý nghiên cứu mô hình kết hợp đào tạo kỹ sư hoặc cử nhân với kiến thức, nghiệp vụ về công nghệ giáo dục. Cách tiếp cận này có thể giúp người học vừa có nền tảng chuyên môn, vừa có năng lực vận dụng kiến thức và công nghệ vào hoạt động giảng dạy tại các cơ sở giáo dục nghề nghiệp.
Bổ sung về yêu cầu phối hợp giữa các trường, Tiến sĩ Võ Tiến Trung - Trưởng phòng Đào tạo Trường Đại học Công nghệ Kỹ thuật Vinh, cho rằng cần phân biệt yêu cầu đối với giáo viên phổ thông và giáo viên giảng dạy trong hệ thống giáo dục nghề nghiệp. Theo thầy Trung, ngành Sư phạm Công nghệ đã cơ bản đáp ứng yêu cầu chuyên môn đối với giáo viên phổ thông, nhưng nếu áp dụng nguyên mô hình đào tạo này cho giáo dục nghề nghiệp thì có thể chưa đáp ứng đặc thù chuyên môn của từng ngành nghề.
Bên cạnh đó, Tiến sĩ Võ Tiến Trung cũng đề xuất các trường trong khối cùng xây dựng kho dữ liệu mở, học liệu dùng chung; đồng thời trao đổi, thống nhất về chuẩn đầu ra và cấu trúc chương trình đào tạo. Dù lựa chọn bộ chuẩn quốc gia hay quốc tế, các chương trình cần bảo đảm mức độ tương đương phù hợp. Theo ông, chương trình đào tạo là nền tảng để các trường phối hợp, nâng cao chất lượng và sử dụng hiệu quả nguồn lực chung.
Về tổ chức hoạt động của Câu lạc bộ, ông Phạm Ngọc Lan đề xuất nghiên cứu đổi tên Câu lạc bộ Khối Sư phạm Kỹ thuật thành Câu lạc bộ Khối các trường Công nghệ Kỹ thuật để phù hợp với định hướng hoạt động hiện nay.
Cùng bàn về hướng phát triển chung, Tiến sĩ Thái Hữu Nguyên, Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Công nghệ Kỹ thuật Vinh đề xuất Câu lạc bộ tổ chức hội thảo chuyên đề riêng về những vấn đề cốt lõi của đào tạo sư phạm kỹ thuật. Theo thầy, đây là nội dung cần được các trường cùng nghiên cứu, trao đổi trên cơ sở khoa học và thống nhất phương án thực hiện, tránh tình trạng mỗi đơn vị triển khai theo một hướng riêng.
Chuyển kết quả tọa đàm thành chương trình hành động cụ thể
Phát biểu kết luận tọa đàm, Tiến sĩ Thái Anh Tuấn, Hiệu trưởng Trường Đại học Công nghệ Kỹ thuật Vinh, trân trọng cảm ơn các đại biểu, nhà khoa học và chuyên gia đã tham dự, đóng góp nhiều ý kiến tâm huyết. Theo thầy, các tham luận và thảo luận đã làm rõ vai trò của các trường đại học công nghệ kỹ thuật trong đổi mới giáo dục và đào tạo, đồng thời mở ra cơ hội để các trường thành viên Câu lạc bộ tăng cường liên kết, nâng cao trách nhiệm phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao cho đất nước.
Tổng kết tọa đàm, Tiến sĩ Thái Anh Tuấn nhấn mạnh bốn nội dung trọng tâm.
Thứ nhất, nâng cao nhận thức về vị thế của các trường đại học công nghệ kỹ thuật, khẳng định vai trò trong đào tạo nhân lực kỹ thuật cao, phát triển khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo, đào tạo nhà giáo giáo dục nghề nghiệp. Các trường cần chủ động đổi mới tư duy, chương trình và phương thức đào tạo, gắn kết chặt chẽ với doanh nghiệp.
Thứ hai, đổi mới mạnh mẽ mô hình đào tạo, tập trung nghiên cứu mô hình đào tạo nhà giáo giáo dục nghề nghiệp trình độ đại học; phát triển nhân lực công nghệ chiến lược; ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI), STEM và tài nguyên giáo dục mở nhằm nâng cao năng lực tự học, tư duy sáng tạo của người học.
Thứ ba, thúc đẩy hợp tác thực chất và bền vững trong Câu lạc bộ, phát huy sức mạnh kết nối nguồn lực thông qua các chương trình chung về đào tạo, nghiên cứu khoa học, phát triển học liệu số, trao đổi giảng viên và hợp tác với doanh nghiệp, trên cơ sở có lộ trình và tiêu chí rõ ràng.
Thứ tư, chuyển hóa kết quả tọa đàm thành chương trình hành động. TS. Thái Anh Tuấn đề nghị Ban Chủ nhiệm Câu lạc bộ và các trường thành viên tổng hợp những đề xuất tại tọa đàm, ưu tiên triển khai các nhiệm vụ cấp thiết, hình thành những chương trình hợp tác có trọng tâm, tránh dàn trải.
Sau gần 4 giờ làm việc nghiêm túc, trách nhiệm và cởi mở, tọa đàm đã thành công tốt đẹp, với nhiều ý kiến thiết thực về đổi mới đào tạo, phát triển nhân lực công nghệ và tăng cường hợp tác giữa các trường đại học công nghệ kỹ thuật.