Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành Thông tư số 53/2026/TT-BGDĐT (Thông tư số 53) về Quy chế tuyển sinh và đào tạo sau đại học, có hiệu lực từ 1/1/2027. Trong đó, Khoản 2, Điều 3, Thông tư số 53 quy định đào tạo trình độ tiến sĩ chỉ tổ chức thực hiện theo hình thức đào tạo chính quy. Nghiên cứu sinh chịu sự quản lý, giám sát và đánh giá của cơ sở đào tạo trong suốt quá trình đào tạo, tham gia hoạt động chuyên môn, giảng dạy, nghiên cứu khoa học theo các cách thức sau:

"Học tập, nghiên cứu toàn thời gian tại cơ sở đào tạo theo kế hoạch học tập toàn khóa do cơ sở đào tạo ban hành, tham gia các hoạt động chuyên môn của cơ sở đào tạo bao gồm trợ giảng, hướng dẫn thực hành, thực tập, phòng thí nghiệm; không làm việc toàn thời gian tại cơ quan, tổ chức khác trong thời gian học tập.

Học tập, nghiên cứu tại cơ sở đào tạo bảo đảm đủ thời gian theo kế hoạch học tập toàn khóa do cơ sở đào tạo ban hành trong đó đăng ký đủ 30 tín chỉ trong một năm học".

Theo đại diện một số cơ sở giáo dục đại học, việc nghiên cứu sinh không làm việc toàn thời gian tại cơ quan, tổ chức khác sẽ giúp người học có thêm thời gian để nâng cao chất lượng luận án, nhưng cũng có thể tạo áp lực tài chính lớn nếu không có sự hỗ trợ từ gia đình và đơn vị đang công tác.

Cơ sở đào tạo có thể chủ động xây dựng kế hoạch đào tạo phù hợp với từng nhóm người học

Trao đổi với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Thị Hoàng Anh - Phó Giám đốc Học viện Ngân hàng cho rằng, với việc nghiên cứu sinh không làm việc toàn thời gian tại cơ quan, tổ chức khác sẽ giúp người học có thêm thời gian tập trung cho nghiên cứu, qua đó nâng cao chất lượng luận án.

Tuy nhiên, theo cô Hoàng Anh, quy định này có thể tạo áp lực đối với những nghiên cứu sinh là giảng viên hoặc cán bộ theo học tiến sĩ tại cơ sở đào tạo khác nơi đang công tác, bởi họ phải đồng thời thực hiện nhiệm vụ chuyên môn ở cả hai đơn vị.

Vì vậy, các cơ sở đào tạo cần thiết kế chương trình và môi trường học thuật linh hoạt, giúp nghiên cứu sinh hoàn thành khối lượng 30 tín chỉ/năm học mà vẫn bảo đảm chất lượng nghiên cứu và hạn chế ảnh hưởng đến công việc chuyên môn.

725880327-1342518831358175-1338306139790874576-n.jpg
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Thị Hoàng Anh - Phó Giám đốc Học viện Ngân hàng. Ảnh: website nhà trường

“Ngay từ đầu khóa, mỗi nghiên cứu sinh cần xây dựng kế hoạch học tập cá nhân với lộ trình rõ ràng, được thống nhất giữa cơ sở đào tạo, người hướng dẫn và nghiên cứu sinh, trong đó phân bổ hợp lý thời gian học tập, nghiên cứu.

Bên cạnh đó, cần đẩy mạnh cơ chế đồng hướng dẫn giữa giảng viên của cơ sở đào tạo với các chuyên gia, tạo điều kiện để nghiên cứu sinh thực hiện đề tài tại phòng thí nghiệm hoặc gắn với các dự án nghiên cứu ở đơn vị công tác, vừa đáp ứng yêu cầu đào tạo, vừa tạo ra sản phẩm khoa học cho cả hai bên.

Ngoài ra, các cơ sở đào tạo nên tuyển chọn nghiên cứu sinh tham gia nhóm nghiên cứu mạnh, đề tài cấp Bộ, cấp Nhà nước hoặc dự án hợp tác với doanh nghiệp có nguồn kinh phí. Khi được hưởng học bổng hoặc thu nhập từ dự án nghiên cứu, nghiên cứu sinh sẽ có thêm động lực và điều kiện để toàn tâm toàn ý dành thời gian cho hoạt động nghiên cứu, từ đó nâng cao chất lượng các công trình khoa học”, Phó Giám đốc Học viện Ngân hàng bày tỏ.

Đồng quan điểm, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Trần Viết Long - Trưởng phòng, Phòng Đào tạo, Trường Đại học Luật (Đại học Huế) khẳng định, Thông tư số 53 đã tạo cơ sở để hài hòa giữa yêu cầu bảo đảm chất lượng đào tạo và tính linh hoạt trong tổ chức thực hiện.

Theo thầy Long, các cơ sở đào tạo có thể chủ động xây dựng kế hoạch đào tạo phù hợp với từng nhóm người học, trong đó có nghiên cứu sinh đang công tác, nhưng vẫn phải bảo đảm người học có đủ thời gian học tập, nghiên cứu và đăng ký đủ số tín chỉ trong một năm học theo quy định.

490955729-686953343986737-5890060145464351466-n.jpg
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Trần Viết Long - Trưởng phòng, Phòng Đào tạo, Trường Đại học Luật (Đại học Huế). Ảnh: website nhà trường.

“Thời gian qua, một số cơ sở đào tạo đã triển khai nhiều hình thức hỗ trợ nghiên cứu sinh như cấp học bổng, hỗ trợ kinh phí nghiên cứu, khuyến khích công bố khoa học, bố trí công việc trợ giảng hoặc trả thù lao khi nghiên cứu sinh tham gia các đề tài, dự án phù hợp.

Để nâng cao chất lượng đào tạo tiến sĩ, việc tổ chức đào tạo cần gắn với chính sách phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, đồng thời quản lý nghiên cứu sinh theo tiến độ học tập, các mốc học thuật và sản phẩm nghiên cứu cụ thể, bao gồm kết quả học phần, đề cương nghiên cứu, seminar khoa học, công bố khoa học và luận án.

Cơ chế phối hợp chặt chẽ giữa cơ sở đào tạo, nghiên cứu sinh và đơn vị nơi nghiên cứu sinh đang công tác sẽ giúp người học hoàn thành các yêu cầu học thuật cũng như luận án đúng tiến độ, đồng thời hạn chế tối đa ảnh hưởng đến hoạt động chuyên môn của cơ quan, đơn vị”, Trưởng phòng, Phòng Đào tạo, Trường Đại học Luật (Đại học Huế) cho hay.

Trong khi đó, theo Tiến sĩ Nguyễn Văn Minh - Trưởng phòng, Phòng Đào tạo, Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long, cách thức nghiên cứu sinh học tập trung toàn thời gian đã được xác định trong luật và là chính sách nhằm tạo điều kiện để người học có đủ thời gian đầu tư cho nghiên cứu, nâng cao chất lượng luận án và các công bố khoa học.

"Việc tạo điều kiện về thời gian cho nghiên cứu sinh học tập, nghiên cứu vừa là trách nhiệm, vừa là sự đầu tư cho nguồn nhân lực chất lượng cao của các cơ sở đào tạo, đồng thời bảo đảm thực hiện đúng quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo", thầy Minh nhận định.

Theo Trưởng phòng, Phòng Đào tạo, Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long, đối với giảng viên đang là nghiên cứu sinh tại cơ sở đào tạo, nhà trường sẽ giảm tải giờ giảng và một số nhiệm vụ khác để họ có thêm thời gian tập trung cho nghiên cứu khoa học, bởi đây cũng là nhiệm vụ trọng tâm của nghiên cứu sinh.

Với những nghiên cứu sinh đến từ các cơ sở đào tạo khác, nhà trường sẽ bố trí tham gia trợ giảng, cùng giảng viên hướng dẫn và khoa chuyên môn thực hiện các đề tài nghiên cứu, làm việc trực tiếp tại trường, qua đó vừa bảo đảm yêu cầu chuyên môn, vừa giúp người học toàn tâm thực hiện luận án theo đúng tiến độ đã đăng ký.

Để đáp ứng yêu cầu này, các trường cũng cần tiếp tục đầu tư cơ sở vật chất, phòng thí nghiệm và đặc biệt là xây dựng đội ngũ giảng viên, nhà khoa học đủ năng lực để hướng dẫn nghiên cứu sinh.

“Khi các cơ sở giáo dục đại học đã xác định rõ định hướng phát triển nguồn nhân lực và đội ngũ giảng viên nhận thức đầy đủ về yêu cầu chuẩn trình độ theo quy định, việc triển khai quy định mới sẽ không gặp nhiều khó khăn hay trở ngại. Tất cả đều hướng tới mục tiêu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tạo nền tảng cho sự phát triển của các cơ sở giáo dục đại học và thực hiện hiệu quả các chủ trương của Đảng, Nhà nước", Tiến sĩ Nguyễn Văn Minh chia sẻ.

702360954-1501992581714776-4428089945896158296-n.jpg
Tiến sĩ Nguyễn Văn Minh - Trưởng phòng, Phòng Đào tạo, Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long. Ảnh: website nhà trường

Cần có những cơ chế hỗ trợ thiết thực cho nghiên cứu sinh trong suốt quá trình học tập

Theo Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Thị Hoàng Anh, việc nghiên cứu sinh không được làm việc toàn thời gian tại đơn vị khác hướng đến mục tiêu nâng cao chất lượng đào tạo tiến sĩ, cũng như chất lượng các công trình nghiên cứu và luận án tiến sĩ.

Tuy nhiên, khi quy định này được ban hành, không ít ý kiến bày tỏ lo ngại rằng đây sẽ là rào cản đối với những người muốn theo đuổi con đường nghiên cứu, đặc biệt là nghiên cứu sinh đến từ các cơ quan, tổ chức ngoài cơ sở giáo dục đại học.

Phó Giám đốc Học viện Ngân hàng cho biết, hiện nay có rất ít nghiên cứu sinh nhận được học bổng toàn phần cho chương trình đào tạo tiến sĩ. Vì vậy, quy định không được làm việc toàn thời gian tại đơn vị khác đồng nghĩa với việc nhiều người sẽ phải đối mặt với áp lực tài chính rất lớn nếu không có sự hỗ trợ từ gia đình hoặc đơn vị đang công tác.

Đồng thời, họ cũng có thể gặp những trở ngại nhất định trong quá trình phát triển sự nghiệp. Đối với những người đang có công việc ổn định, việc xin nghỉ hoặc chuyển sang làm việc bán thời gian để theo học tiến sĩ là một quyết định không hề dễ dàng, bởi điều đó có thể làm gián đoạn cơ hội thăng tiến.

“Thực tế cho thấy, chất lượng đào tạo nghiên cứu sinh tốt, chất lượng các công bố và luận án tiến sĩ tốt đến từ nhiều nguyên nhân như: năng lực chuyên môn của nghiên cứu sinh, sự quyết tâm, tâm huyết của nghiên cứu sinh đối với hoạt động nghiên cứu; sự tận tình hướng dẫn của các thầy cô hướng dẫn; sự nghiêm túc, khách quan của Hội đồng đánh giá luận án các cấp. Yếu tố học toàn thời gian chỉ đóng góp một phần nào đó cho chất lượng của các chương trình đào tạo tiến sĩ.

Quy định mới của Bộ Giáo dục và Đào tạo là một bước đi tất yếu để chuẩn hóa giáo dục sau đại học. Khó khăn ban đầu là không thể tránh khỏi, nhưng đây là cơ hội để các trường đại học thay đổi mô hình quản trị, chuyển dịch từ đào tạo đại trà sang đầu tư có trọng điểm", cô Hoàng Anh nhấn mạnh.

Theo Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Thị Hoàng Anh, để triển khai đúng và hiệu quả quy định này, các cơ sở đào tạo cần đồng thời xây dựng những cơ chế hỗ trợ thiết thực cho nghiên cứu sinh trong suốt quá trình học tập.

Trước hết, các trường cần xây dựng quỹ học bổng và quỹ hỗ trợ nghiên cứu sinh bằng cách trích lập từ các nguồn thu hợp pháp hoặc quỹ phát triển khoa học và công nghệ để cấp học bổng toàn phần hoặc bán phần. Mức học bổng tối thiểu nên tương đương với thu nhập cơ bản của một giảng viên trẻ để nghiên cứu sinh có thể yên tâm học tập và nghiên cứu.

Bên cạnh đó, các trường nên mở rộng cơ chế trợ giảng và trợ lý nghiên cứu nhằm tối ưu hóa nguồn lực tại chỗ. Theo đó, việc để nghiên cứu sinh tham gia hướng dẫn thực hành, chấm bài cho sinh viên đại học hoặc tham gia các đề tài nghiên cứu cấp Bộ, cấp Nhà nước cùng giảng viên trong trường không chỉ giúp họ có thêm nguồn thu nhập hợp pháp mà còn tạo điều kiện để người học rèn luyện kỹ năng sư phạm và tích lũy kinh nghiệm nghiên cứu thực tiễn.

486529035-1128283936008252-3912463834571253473-n.jpg
Một buổi bảo vệ luận án tiến sĩ tại Học viện Ngân hàng. Ảnh: website nhà trường

Ngoài ra, các cơ sở đào tạo cần chủ động tăng cường hợp tác với doanh nghiệp và các quỹ đầu tư tư nhân thông qua việc kết nối với các doanh nghiệp, tập đoàn để đặt hàng đề tài nghiên cứu. Khi doanh nghiệp tài trợ học bổng và kinh phí nghiên cứu cho người học, kết quả nghiên cứu sẽ có điều kiện được chuyển giao trực tiếp để giải quyết các bài toán công nghệ, sản xuất của doanh nghiệp, qua đó tạo ra lợi ích cho cả hai phía.

Phó Giám đốc Học viện Ngân hàng cũng nhấn mạnh sự cần thiết của việc hỗ trợ nghiên cứu sinh trong công bố quốc tế và giảm bớt gánh nặng về thủ tục hành chính. Cụ thể, các cơ sở đào tạo nên thành lập những nhóm hỗ trợ dịch thuật, biên tập bài báo quốc tế trên các tạp chí WoS, Scopus, đồng thời hỗ trợ một phần hoặc toàn bộ chi phí công bố ở những tạp chí uy tín.

"Đây là giải pháp giúp giảm bớt áp lực tài chính cho nghiên cứu sinh ở giai đoạn cuối của chương trình đào tạo. Hiện nay, Học viện Ngân hàng cũng đang triển khai giải pháp này", Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Thị Hoàng Anh cho biết thêm.

Còn theo Phó Giáo sư, Tiến sĩ Trần Viết Long, Thông tư số 53 mang lại nhiều tác động tích cực đối với hệ thống đào tạo sau đại học. Đối với đào tạo tiến sĩ, Thông tư không chỉ quy định rõ về kết quả nghiên cứu, công bố khoa học, các hoạt động đào tạo, thành phần hội đồng và công tác hậu kiểm, mà còn đề cao quyền chủ động của cơ sở đào tạo trong việc xây dựng quy chế và tổ chức đào tạo phù hợp với đặc thù từng ngành, từng chương trình và từng nhóm người học.

Theo thầy, các chính sách hỗ trợ dành cho nghiên cứu sinh cũng cần được xem xét trên cơ sở thẩm quyền, nhu cầu thực tế và điều kiện nguồn lực của từng cơ quan, đơn vị.

Trưởng phòng, Phòng Đào tạo, Trường Đại học Luật (Đại học Huế) đề xuất, để các quy định mới được triển khai hiệu quả và kịp thời, cần phát huy đồng thời quyền chủ động của cơ sở đào tạo và nâng cao trách nhiệm của người học trên cơ sở các quy định của cơ quan quản lý.

"Trên cơ sở quy chế đào tạo, nghiên cứu sinh cần chủ động lựa chọn hình thức học tập phù hợp, sắp xếp thời gian hợp lý, tuân thủ kế hoạch đào tạo và chịu trách nhiệm về chất lượng, tiến độ cũng như tính trung thực của kết quả nghiên cứu.

Sự phối hợp chặt chẽ giữa cơ sở đào tạo và nghiên cứu sinh sẽ góp phần nâng cao chất lượng đào tạo sau đại học, đồng thời bảo đảm tính linh hoạt và khả thi trong quá trình triển khai các quy định mới”, thầy Long bày tỏ.

Đình Nam