Sở GD&ĐT Tây Ninh nêu những mục tiêu trọng tâm trong năm học mới

03/09/2026 06:32
Mạnh Dũng
Theo dõi trên Google News
0:00 / 0:00
0:00

GDVN - Ngành Giáo dục tỉnh Tây Ninh nỗ lực triển khai thực hiện chính sách để kiên cố hóa trường lớp, loại bỏ phòng học tạm, phòng học mượn đối với các khu vực đặc thù như xã biên giới, vùng sâu vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

Trước thềm năm học mới, các địa phương trên cả nước đang gấp rút hoàn thiện những điều kiện cần thiết để đảm bảo các hoạt động giáo dục được triển khai hiệu quả.

Tại Tây Ninh, công tác chuẩn bị cho năm học 2026-2027 đang được khẩn trương triển khai, bám sát các yêu cầu đổi mới cũng như thực tiễn địa phương. Đặc biệt, việc đẩy mạnh nâng cấp, sửa chữa cơ sở vật chất trường lớp được xác định là giải pháp góp phần tạo đòn bẩy để nâng cao chất lượng dạy và học trong năm học mới.

Tập trung nguồn lực nâng cấp cơ sở vật chất, đảm bảo điều kiện ăn ở, sinh hoạt cho học sinh

Trao đổi với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, đại diện Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Tây Ninh cho biết, trong thời gian qua, Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh đã phối hợp với ủy ban nhân dân các xã, phường; ban quản lý dự án các công trình dân dụng tỉnh để rà soát, đánh giá thực trạng cơ sở vật chất các trường học trong tỉnh, qua đó đưa ra đề xuất để cải tạo, xây mới bổ sung phòng học, phòng chức năng nhằm đáp ứng nhu cầu học tập của học sinh và cũng đáp ứng các tiêu chuẩn định mức quy định về cơ sở vật chất để đạt chuẩn quốc gia.

Cùng với đó, mạng lưới trường, lớp tiếp tục được ngành Giáo dục tỉnh rà soát, sắp xếp theo hướng phù hợp với quy mô dân số, điều kiện địa lý và nhu cầu học tập của người dân. Tỷ lệ trường đạt chuẩn quốc gia của tỉnh trong 6 tháng đầu năm đạt 69,08%, ước thực hiện đến cuối năm đạt 69,26%. Kết quả này phản ánh sự chủ động của ngành trong tham mưu đầu tư, kiểm định chất lượng, cải tiến quản trị và huy động nguồn lực cho giáo dục.

Ngoài ra, Sở đã tham mưu các quyết định phê duyệt đề án hỗ trợ cơ sở vật chất gắn với xây dựng trường chuẩn quốc gia đối với cả khối mầm non và phổ thông. Việc đầu tư được định hướng tập trung, tránh dàn trải, ưu tiên phòng học, phòng chức năng, thư viện, nhà đa năng, thiết bị dạy học tối thiểu, hạ tầng công nghệ thông tin, công trình nước sạch, bếp ăn, phòng cháy chữa cháy và các hạng mục bảo đảm an toàn trường học. Các địa phương được yêu cầu rà soát quỹ đất, quy mô học sinh và khả năng khai thác cơ sở vật chất để xây dựng lộ trình đầu tư phù hợp.

Đối với các khu vực đặc thù như xã biên giới, vùng sâu vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, Sở đã triển khai thực hiện chính sách để kiên cố hóa trường lớp, loại bỏ phòng học tạm, phòng học mượn.

Về việc triển khai xây dựng trường phổ thông liên cấp nội trú tại các xã biên giới đất liền giai đoạn 1, Sở chủ động phối hợp với các sở, ngành liên quan chuẩn bị đồng bộ phương án tuyển sinh, bố trí đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên đủ phẩm chất, năng lực để quản lý, vận hành mô hình trường nội trú liên cấp; thiết bị dạy học, điều kiện ăn, ở, đi lại, sinh hoạt, chăm sóc sức khỏe và bảo đảm an ninh, an toàn cho học sinh.

Cụ thể, Sở đã phối hợp tham mưu chủ trương đầu tư 19 trường phổ thông nội trú liên cấp tại 19 xã biên giới, tổng mức đầu tư dự kiến 1.669 tỷ đồng, gồm 59 tỷ đồng cho nâng nền, giải phóng mặt bằng, 1.287 tỷ đồng chi phí xây dựng và 323 tỷ đồng thiết bị. Đây là nhiệm vụ có ý nghĩa đặc biệt về giáo dục, an sinh xã hội, phát triển nguồn nhân lực và bảo đảm quốc phòng, an ninh. Ngành Giáo dục tỉnh cũng chuẩn bị phương án tổ chức hoạt động, tuyển sinh, bố trí đội ngũ, ký túc xá, bếp ăn, nước sạch và thiết bị để các công trình sau khi hoàn thành được vận hành hiệu quả, không phát sinh lãng phí.

Cùng với đó, thực hiện chỉ đạo của Bộ Giáo dục và Đào tạo và ủy ban nhân dân tỉnh về việc triển khai thực hiện chương trình giáo dục phổ thông, sử dụng sách giáo khoa và hoàn thiện tài liệu giáo dục địa phương, Sở đã ban hành các văn bản hướng dẫn triển khai thực hiện bộ sách giáo khoa thống nhất; chỉ đạo các cơ sở giáo dục phổ thông chuẩn bị đầy đủ sách giáo khoa, thông tin kịp thời đến phụ huynh, học sinh, rà soát nhu cầu và phối hợp với các đơn vị phát hành bảo đảm cung ứng đầy đủ sách giáo khoa cho học sinh, giáo viên trước thềm năm học mới; đồng thời có phương án vận chuyển, phân phối sách đến các địa bàn vùng sâu, vùng xa, khu vực biên giới.

Phấn đấu huy động học sinh ra lớp đầy đủ, duy trì sĩ số và hạn chế tình trạng học sinh bỏ học

Theo đại diện Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Tây Ninh, song song với việc chuẩn bị cơ sở vật chất, công tác huy động học sinh đến trường, đặc biệt là học sinh vùng dân tộc thiểu số, vùng biên giới sau kỳ nghỉ hè cũng là thách thức với ngành giáo dục. Do đó, Sở đã có những giải pháp để huy động học sinh đến trường, giữ vững sĩ số.

Đối với giáo dục mầm non, công tác huy động trẻ đến trường được xác định là một trong những nhiệm vụ trọng tâm, gắn với mục tiêu duy trì phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi và triển khai lộ trình phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em từ 3 đến 5 tuổi trên địa bàn tỉnh.

tay-ninh-truong-mam-non-1445.jpg
Công tác huy động trẻ đến trường được xác định là một trong những nhiệm vụ trọng tâm ngay từ đầu năm học của ngành Giáo dục tỉnh Tây Ninh. Ảnh: sgddt.tayninh.gov.vn

Trước khai giảng năm học 2026-2027, Sở đã chỉ đạo các địa phương rà soát, cập nhật đầy đủ trẻ trong độ tuổi trên từng địa bàn, xây dựng kế hoạch huy động phù hợp với điều kiện thực tế; ưu tiên huy động trẻ từ 3 đến 5 tuổi, đồng thời quan tâm trẻ có hoàn cảnh khó khăn, trẻ khuyết tật có nhu cầu học hòa nhập, trẻ thuộc hộ nghèo, cận nghèo và trẻ có nguy cơ chưa được đến trường.

Đối với vùng biên giới, vùng khó khăn và những địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội còn hạn chế, giải pháp không chỉ dừng ở tuyên truyền, vận động mà phải gắn với bảo đảm điều kiện học tập và thực hiện đầy đủ các chính sách hỗ trợ đối với trẻ em thuộc đối tượng thụ hưởng. Kế hoạch phổ cập của tỉnh xác định ưu tiên nguồn lực cho vùng biên giới, vùng khó khăn; đồng thời huy động sự tham gia của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội và cộng đồng trong vận động gia đình đưa trẻ đến trường, duy trì sĩ số.

Một giải pháp căn cơ khác là quản lý chính xác trẻ trong độ tuổi. Sở đang chỉ đạo tăng cường điều tra, cập nhật dữ liệu trẻ, từng bước kết nối, đồng bộ dữ liệu phổ cập với cơ sở dữ liệu dân cư để hạn chế tình trạng bỏ sót trẻ, nhất là tại những địa bàn có biến động dân cư. Thực tế hiện nay, việc quản lý trẻ tại một số địa phương còn khó khăn do di cư lao động và thay đổi nơi cư trú thường xuyên, vì vậy đây là nội dung cần được thực hiện thường xuyên, liên tục chứ không chỉ tập trung vào thời điểm đầu năm học.

Đối với giáo dục phổ thông, để thực hiện tốt công tác huy động học sinh đến trường, nhất là học sinh dân tộc thiểu số, học sinh tại các xã biên giới, Sở chỉ đạo các cơ sở giáo dục phối hợp với chính quyền địa phương, các ban, ngành, đoàn thể, trưởng ấp, già làng, người có uy tín tuyên truyền, vận động phụ huynh đưa trẻ đến trường, trở lại trường đúng thời gian quy định; phân công cán bộ quản lý, giáo viên chủ nhiệm và giáo viên phụ trách địa bàn trực tiếp đến gia đình để tuyên truyền, vận động học sinh. Đối với địa bàn biên giới, chú trọng nắm tình hình học sinh theo cha mẹ sang Campuchia trong thời gian nghỉ hè; phối hợp với trưởng ấp, già làng và gia đình vận động các em trở về để chuẩn bị năm học mới.

Đồng thời, Sở cũng chỉ đạo địa phương quan tâm hỗ trợ học sinh có hoàn cảnh khó khăn. Các cơ sở giáo dục phối hợp với các ban, ngành, đoàn thể và huy động nguồn lực hỗ trợ học sinh dân tộc thiểu số, học sinh có hoàn cảnh khó khăn thông qua các hoạt động trao học bổng, áo trắng, sách vở và đồ dùng học tập, góp phần tạo điều kiện để học sinh đến trường.

Thông qua việc phối hợp chặt chẽ giữa nhà trường, gia đình, chính quyền địa phương và cộng đồng; tổ chức vận động trực tiếp; đồng thời thực hiện các giải pháp hỗ trợ phù hợp với đặc thù học sinh dân tộc thiểu số, vùng biên giới, ngành Giáo dục tỉnh phấn đấu huy động học sinh ra lớp đầy đủ, duy trì sĩ số và hạn chế tình trạng học sinh bỏ học trong năm học 2026-2027.

Đối với giáo dục nghề nghiệp - giáo dục thường xuyên, Sở xác định muốn huy động học sinh trở lại trường sau hè thì phải đúng đối tượng, đúng nguyên nhân, đúng hướng đi và phải có thông tin đầy đủ cho người học.

Sở chỉ đạo các cơ sở giáo dục phối hợp với địa phương rà soát, phân loại từng học sinh có nguy cơ bỏ học để có giải pháp phù hợp, nhất là học sinh vùng biên giới, vùng dân tộc thiểu số. Ngay từ đầu tháng 8, bằng việc thành lập các đoàn kiểm tra công tác chuẩn bị khai giảng, Sở đã chỉ đạo các đơn vị trường học chủ động, quan tâm, vận động học sinh quay trở lại trường bằng nhiều hình thức, thông qua các kênh liên lạc, thông tin, mạng xã hội,… thông báo đến địa phương, gia đình, học sinh chuẩn bị quay lại trường học, chuẩn bị cho năm học mới.

Mặt khác, Sở tiếp tục thực hiện đầy đủ các chính sách hỗ trợ về học phí, học tập, ăn ở, đi lại đối với những học sinh thuộc diện được hưởng chính sách, đồng thời huy động thêm nguồn lực xã hội để hỗ trợ các em có hoàn cảnh khó khăn. Quan điểm của ngành Giáo dục tỉnh là không để một học sinh rời khỏi hệ thống giáo dục chỉ vì chưa tìm được một con đường phù hợp hay vì thiếu thông tin.

Những mục tiêu trọng tâm của ngành Giáo dục Tây Ninh trong năm học mới

Đại diện Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Tây Ninh nhấn mạnh, từ sự chuẩn bị chủ động và đồng bộ về mặt cơ sở vật chất, ngành Giáo dục tỉnh đặt ra những mục tiêu trọng tâm và kỳ vọng đối với chất lượng giáo dục trong năm học 2026 - 2027.

Theo đó, đối với giáo dục mầm non, sự chuẩn bị về cơ sở vật chất, đội ngũ và các điều kiện đầu năm học không phải là mục tiêu cuối cùng mà là điều kiện để nâng cao chất lượng nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục trẻ. Trong năm học 2026-2027, ngành Giáo dục tỉnh tập trung trước hết vào việc bảo đảm an toàn cho trẻ trong mọi hoạt động; nâng cao chất lượng nuôi dưỡng, chăm sóc sức khỏe, tổ chức ăn bán trú; theo dõi tình trạng dinh dưỡng và thực hiện các giải pháp phòng, chống suy dinh dưỡng, thừa cân, béo phì.

Đồng thời, tiếp tục nâng cao chất lượng thực hiện chương trình giáo dục mầm non theo hướng phù hợp với điều kiện thực tế, văn hóa địa phương và nhu cầu, khả năng của trẻ; tăng cường trải nghiệm, phát triển toàn diện, giáo dục kỹ năng sống và ứng dụng công nghệ số phù hợp, không gây áp lực và không dạy trước chương trình lớp 1 cho trẻ mẫu giáo.

Đối với giáo dục phổ thông, năm học 2026–2027 là năm thứ hai ngành Giáo dục tỉnh triển khai nhiệm vụ trong không gian phát triển mới của tỉnh sau hợp nhất. Nếu năm học trước tập trung nhiều vào việc ổn định tổ chức, bảo đảm hoạt động giáo dục được thông suốt, thì năm học này ngành Giáo dục tỉnh đặt yêu cầu cao hơn là nâng chất lượng và tạo chuyển biến rõ hơn trong từng nhà trường.

Điều mà ngành quan tâm nhất là chất lượng thực tế của người học. Học sinh Tây Ninh trong giai đoạn mới cần có nền tảng kiến thức vững, đồng thời phát triển khả năng tự học, tư duy khoa học, sáng tạo, giải quyết vấn đề, năng lực số và sử dụng trí tuệ nhân tạo. Vì vậy, ngành tiếp tục thực hiện hiệu quả Chương trình giáo dục phổ thông 2018, đổi mới phương pháp dạy học, kiểm tra, đánh giá; chú trọng giáo dục STEM/STEAM, nghiên cứu khoa học, kỹ thuật và giáo dục hướng nghiệp; từng bước đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học.

hs-tay-ninh.jpg
Trường Trung học phổ thông Nguyễn Văn Trỗi (tỉnh Tây Ninh) tổ chức hoạt động hướng nghiệp cho học sinh. Ảnh: sgddt.tayninh.gov.vn

Đối với giáo dục nghề nghiệp - giáo dục thường xuyên, năm học 2026–2027, Sở xác định trọng tâm không chỉ là tăng số lượng người học, mà quan trọng hơn là nâng cao chất lượng và hiệu quả đào tạo. Sở kỳ vọng nâng cao chất lượng phân luồng, hướng nghiệp, giúp học sinh lựa chọn được con đường học tập phù hợp với năng lực, sở trường và điều kiện của mình.

Ngành Giáo dục tỉnh mong muốn phát huy tốt hơn vai trò học tập suốt đời, tạo cơ hội để mọi người có thể học văn hóa, học nghề, cập nhật kiến thức và kỹ năng, phù hợp với sự thay đổi của xã hội và thị trường lao động.

Mục tiêu quan trọng khác là nâng cao chất lượng đầu ra. Sở kỳ vọng người học sau khi hoàn thành chương trình không chỉ có bằng cấp, chứng chỉ mà phải có kiến thức, kỹ năng và khả năng thích ứng với công việc thực tế, nâng cao cơ hội việc làm, đáp ứng nhu cầu nhân lực cho gần 100 khu cụm công nghiệp với gần 40 ngàn lao động trong tỉnh, tham gia lao động ngoài tỉnh và xuất khẩu lao động.

Mạnh Dũng