Khoảng 39% kỹ năng của người lao động có thể thay đổi vào năm 2030
Đó là chia sẻ của Thượng tướng, GS.TS Nguyễn Văn Thành - nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Thứ trưởng Bộ Công an, Phó Chủ tịch chuyên trách Hội đồng Lý luận Trung ương nhiệm kỳ 2021-2026, tại Hội thảo khoa học quốc gia “Giáo dục đại học Việt Nam trong kỷ nguyên mới: Tự chủ chiến lược, Chuyển đổi số, Đổi mới sáng tạo và Hội nhập bền vững”.
Dẫn Báo cáo Tương lai việc làm năm 2025 của Diễn đàn Kinh tế Thế giới, thầy Thành cho biết đến năm 2030, khoảng 39% kỹ năng hiện có của người lao động sẽ thay đổi hoặc trở nên lỗi thời; khoảng 59% người lao động sẽ cần được đào tạo lại hoặc nâng cao kỹ năng. Báo cáo của Diễn đàn Kinh tế Thế giới cũng xác định tư duy phân tích, khả năng thích ứng, tính linh hoạt, AI và dữ liệu lớn, mạng lưới và an ninh mạng là những nhóm kỹ năng ngày càng được coi trọng trong giai đoạn 2025-2030.
Theo thầy Thành, những thay đổi này diễn ra trong bối cảnh nhân loại đang ở giai đoạn đầu của Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Nếu các cuộc cách mạng công nghiệp trước đây lần lượt tạo ra cơ giới hóa, điện khí hóa và cuộc cách mạng số, thì Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang thúc đẩy sự phát triển của các hệ thống kết nối giữa thế giới vật lý và không gian số, với những công nghệ như trí tuệ nhân tạo (AI), Internet vạn vật, dữ liệu lớn, điện toán đám mây, in 3D, công nghệ sinh học và vật liệu mới.
Điểm đáng chú ý, theo thầy Thành, không chỉ nằm ở sự xuất hiện của từng công nghệ mà còn ở tốc độ công nghệ được xã hội tiếp nhận và ứng dụng. Thầy dẫn ví dụ TikTok mất khoảng 9 tháng và ChatGPT khoảng 2 tháng để đạt 100 triệu người dùng.
“Quy mô, tốc độ phát triển của Cách mạng công nghiệp lần thứ tư chưa từng có trong lịch sử”, GS.TS Nguyễn Văn Thành nhấn mạnh.
Từ sự thay đổi về công nghệ, thầy Thành cho rằng thị trường lao động đang đứng trước những biến chuyển rất lớn. Những năng lực như tư duy phân tích, khả năng thích ứng, tính linh hoạt, khả năng sử dụng AI và năng lực bảo đảm an ninh mạng ngày càng có ý nghĩa.
Từ đó, thầy Thành đặt vấn đề đối với giáo dục đại học: nhà trường không thể chỉ đào tạo người học theo những yêu cầu của thị trường lao động ở hiện tại mà phải chuẩn bị năng lực để người học có thể thích ứng với những thay đổi nhanh của công nghệ và nghề nghiệp.
Không chỉ tác động đến việc làm, theo thầy Thành, Cách mạng công nghiệp lần thứ tư còn làm thay đổi phương thức quản trị xã hội. Khi dữ liệu, AI và các nền tảng số ngày càng tham gia sâu vào các hoạt động kinh tế - xã hội, phương thức quản trị cũng phải thích ứng với môi trường số, đồng thời tăng cường sự phối hợp giữa cơ quan quản lý, doanh nghiệp, các tổ chức xã hội và người dân.
AI mở ra cơ hội nhưng cũng đặt ra thách thức mới
Một vấn đề khác được thầy Thành nhấn mạnh là những cơ hội đi cùng rủi ro từ AI.
Theo thầy, AI có thể góp phần nâng cao năng suất, hỗ trợ quá trình ra quyết định, thúc đẩy nghiên cứu, đổi mới sáng tạo và nâng cao chất lượng dịch vụ. Tuy nhiên, công nghệ này cũng đặt ra những thách thức liên quan đến an ninh mạng, thông tin sai lệch, giả mạo bằng công nghệ, quyền riêng tư và bảo vệ dữ liệu.
“Song hành với những thay đổi mang tiềm năng to lớn mà AI mang đến là những thách thức chưa từng có trong lịch sử nhân loại”, thầy Thành nói và cho rằng chuyển đổi số, phát triển AI không thể tách rời yêu cầu bảo đảm an ninh, an toàn. Cùng với việc nâng cao năng lực số cho người dân, cần hình thành văn hóa số, trang bị cho người học khả năng nhận diện thông tin sai lệch, thông tin độc hại và kỹ năng tự bảo vệ trong môi trường mạng.
Đối với giáo dục, thầy Thành cho rằng cần nghiên cứu việc đưa nhận thức, kỹ năng về an ninh mạng và an toàn số vào hệ thống giáo dục; đồng thời tăng cường các giải pháp về pháp lý, kinh tế và kỹ thuật để xử lý những nội dung vi phạm trên môi trường mạng.
Thầy cũng nhấn mạnh vai trò của các cơ quan báo chí, truyền thông chính thống trong cung cấp thông tin chính xác, góp phần định hướng nhận thức xã hội và xử lý thông tin giả, thông tin sai lệch.
Từ những phân tích trên, thầy Thành nhấn mạnh yêu cầu đặt ra là phải đồng thời thúc đẩy chuyển đổi số, phát triển AI và bảo đảm an ninh, an toàn, lợi ích quốc gia. Đây không phải những vấn đề tách rời mà cần được đặt trong cùng một quá trình phát triển bền vững.
“Chuyển đổi số và AI gắn với bảo đảm an ninh, an toàn là tất yếu khách quan để Việt Nam bứt phá trong kỷ nguyên mới”, thầy Thành nhấn mạnh.
Đại học cần kết nối với giáo dục phổ thông, chú trọng phát triển con người
Trao đổi sau phần trình bày của Thượng tướng, GS.TS Nguyễn Văn Thành, PGS.TS Võ Văn Minh - Hiệu trưởng Trường Đại học Sư phạm, Đại học Đà Nẵng, đánh giá cao những vấn đề được đặt ra về tác động của AI đối với giáo dục, quản trị và nguồn nhân lực.
Theo PGS.TS Võ Văn Minh, sự phát triển của AI đang đặt ra yêu cầu định nghĩa lại sứ mệnh của giáo dục đại học, với ba chuyển dịch quan trọng.
Thứ nhất, AI làm thay đổi tư duy và phương thức quản trị giáo dục, từ giáo dục phổ thông đến giáo dục đại học. Thứ hai, AI đặt ra yêu cầu định hình lại hoạt động dạy học và đánh giá năng lực. Thứ ba, đội ngũ nhà giáo cần nâng cao yêu cầu về giáo dục đạo đức và trách nhiệm.
Trong bối cảnh đó, giáo dục cần hướng tới cá nhân hóa và tận dụng khả năng kết nối dữ liệu, tri thức của AI để nâng cao hiệu quả. Tuy nhiên, theo PGS.TS Võ Văn Minh, kết nối bằng công nghệ không thể thay thế sự kết nối giữa con người với con người.
“Tôi nghĩ rằng sự kết nối con người mới là cái tạo ra sự yêu thương. Một xã hội phát triển mà không có yêu thương thì không giải quyết được các bài toán đặt ra”, thầy Minh chia sẻ.
Từ câu chuyện phát triển nguồn nhân lực, PGS.TS Võ Văn Minh cho rằng cần nhìn rộng hơn tới giáo dục mầm non và giáo dục phổ thông, bởi đây là nền tảng chuẩn bị nguồn người học cho giáo dục đại học, nhất là đào tạo nhân lực trình độ cao.
Theo thầy Minh, trong bối cảnh AI, bên cạnh đào tạo, nghiên cứu, quản trị và bảo đảm chất lượng ở bậc đại học, cần nhìn rộng hơn tới chất lượng đầu vào của hệ thống. Muốn xây dựng các trường đại học tinh hoa, cần chuẩn bị tốt lực lượng học sinh từ các bậc học trước đó. Đồng thời, cần định nghĩa và đánh giá lại người tài, người có năng lực, người giỏi, thay vì chỉ chú trọng đến những học sinh có năng lực trí não tốt theo cách tiếp cận hiện nay.
Từ thực tiễn của các trường sư phạm, thầy Minh mong muốn các nhà khoa học và cơ sở giáo dục đại học quan tâm nhiều hơn đến việc kết nối với giáo dục phổ thông, giáo dục mầm non. Bên cạnh đầu tư cho các trường đại học tinh hoa, đại học trọng điểm, cần chú trọng đầu tư cho các cơ sở đào tạo giáo viên để nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo, góp phần cải thiện chất lượng giáo dục toàn hệ thống.
Thầy cũng đề xuất Hiệp hội Các trường đại học, cao đẳng Việt Nam tăng cường kết nối các hoạt động trong giáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp, đồng thời mở rộng liên kết với các tổ chức, trường phổ thông và trường đại học sư phạm nhằm chuẩn bị nguồn nhân lực chất lượng tốt hơn cho xã hội.
Đại học cần chuẩn bị gì trước những yêu cầu mới về AI?
Từ những vấn đề Thượng tướng, GS.TS Nguyễn Văn Thành đặt ra về tác động của AI đối với thị trường lao động, quản trị và giáo dục, Tiến sĩ Nguyễn Minh Huyền Trang - Phó Trưởng ban Ban Công tác Sinh viên, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh đặt ra sự chuẩn bị của các cơ sở giáo dục đại học trước những yêu cầu mới.
Đánh giá rất cao phần trình bày của GS.TS Nguyễn Văn Thành, Tiến sĩ Nguyễn Minh Huyền Trang cho rằng khi AI ngày càng được sử dụng rộng rãi, các trường đại học không chỉ phải thay đổi cách đào tạo mà còn cần tính đến những yêu cầu mới về quản trị, nghiên cứu, giảng dạy, liêm chính học thuật và đạo đức học thuật.
Theo Tiến sĩ Nguyễn Minh Huyền Trang, Việt Nam đã ban hành Luật Trí tuệ nhân tạo số 134/2025/QH15 ngày 10/12/2025, có hiệu lực từ ngày 01/03/2026, đặt ra một khuôn khổ pháp lý mới đối với hoạt động liên quan đến AI.
Từ khuôn khổ pháp lý mới này, Tiến sĩ Nguyễn Minh Huyền Trang đặt vấn đề các cơ sở giáo dục đại học cần chuẩn bị và điều chỉnh hoạt động nghiên cứu, đào tạo, giảng dạy như thế nào để phù hợp với yêu cầu mới, đặc biệt ở những vấn đề liên quan đến liêm chính học thuật và đạo đức học thuật.
Không chỉ đặt vấn đề ở bậc đại học, nữ đại biểu còn lưu ý việc học sinh tiểu học và trung học cơ sở ngày càng có nhiều cơ hội tiếp cận AI.
Theo Tiến sĩ Nguyễn Minh Huyền Trang, khi AI được sử dụng ngày càng phổ biến, vấn đề không chỉ là giúp người học biết sử dụng công nghệ mà còn phải hình thành năng lực phản biện và khả năng nhận định, đánh giá tri thức.
Với sinh viên, các cơ sở giáo dục có thể chú trọng trang bị khả năng phản biện, đánh giá thông tin và tri thức do AI cung cấp. Tuy nhiên, với học sinh ở những bậc học nhỏ tuổi hơn, việc định hướng cách tiếp cận AI cần được đặt ra sớm, trong bối cảnh công nghệ này ngày càng hiện diện trong nhiều môi trường học tập và đời sống.
Từ đó, Tiến sĩ Nguyễn Minh Huyền Trang đặt vấn đề về những thay đổi cần thiết trong chính sách giảng dạy và quản trị giáo dục để trang bị cho người học năng lực phản biện, khả năng nhận định thông tin và sử dụng AI phù hợp.
Trong khuôn khổ hội thảo, các đại biểu tiếp tục trao đổi về những yêu cầu đặt ra đối với giáo dục đại học Việt Nam trong kỷ nguyên mới, trong đó có đổi mới tư duy quản trị, ứng dụng AI, bảo đảm và cải tiến chất lượng, đổi mới kiểm tra đánh giá, đào tạo theo tín chỉ, phát triển nguồn nhân lực và tăng cường kết nối giữa nhà trường với doanh nghiệp, đối tác quốc tế.
Các nội dung này được thảo luận xuyên suốt bốn phiên của hội thảo, với các tham luận và phiên hỏi đáp tập trung vào tự chủ chiến lược, chuyển đổi số, đổi mới sáng tạo, bảo đảm chất lượng và hội nhập bền vững của giáo dục đại học Việt Nam.