Sáng 27/8, tại trụ sở Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng chủ trì Hội nghị tổng kết năm học 2025-2026, triển khai nhiệm vụ năm học 2026-2027. Hội nghị được tổ chức trực tiếp tại Trụ sở Chính phủ, kết nối trực tuyến tới các điểm cầu Ủy ban nhân dân 34 tỉnh, thành phố.
Cùng dự tại điểm cầu Trung ương có Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Tiến Châu; Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Hoàng Minh Sơn; các Thứ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo; lãnh đạo một số Bộ, cơ quan Trung ương; lãnh đạo các đơn vị thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo, các đơn vị sự nghiệp công lập phục vụ chức năng quản lý Nhà nước của Bộ… Điểm cầu tỉnh/thành phố có đại diện lãnh đạo địa phương và lãnh đạo các sở, ban ngành, cơ quan liên quan của địa phương.
Theo báo cáo của Bộ Giáo dục và Đào tạo, năm học 2025-2026 là năm đầu tiên triển khai Nghị quyết số 71 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo, đồng thời vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp.
Với sự quan tâm của lãnh đạo Đảng, Nhà nước; sự phối hợp của các bộ, ngành, địa phương và nỗ lực của toàn ngành, các nhiệm vụ năm học cơ bản được hoàn thành.
Báo cáo đã khái quát 7 kết quả nổi bật trong năm học vừa qua.
Cả nước dự kiến giảm 50,5% số cơ sở giáo dục sau sắp xếp
Một trong những kết quả được Bộ Giáo dục và Đào tạo nhấn mạnh là việc sắp xếp mạng lưới cơ sở giáo dục được triển khai quyết liệt.
Đến ngày 20/8/2026, 16 địa phương đã cơ bản hoàn thành sắp xếp; cả nước dự kiến hoàn thành trước ngày 30/8/2026.
Theo đó, số cơ sở giáo dục dự kiến giảm từ 37.515 xuống 18.575 cơ sở, tương ứng giảm 50,5%. Việc sắp xếp này tạo những trường liên cấp, trường nhiều cấp học.
Việc sắp xếp đồng thời tạo điều kiện bố trí lại đội ngũ. Dự kiến giảm 32.625 hiệu trưởng, hiệu phó và 11.041 nhân viên; trong đó nhiều cán bộ quản lý được bố trí trở lại giảng dạy.
Từ đó, số biên chế dự kiến bổ sung cho năm học 2026-2027 giảm từ 104.516 giáo viên xuống còn 43.267 giáo viên, tương đương với số biên chế giáo viên được giao năm 2025 chưa tuyển dụng và gần bằng số giáo viên đang hợp đồng.
“Cơ bản năm học mới không phải thêm biên chế cho giáo dục”, Bộ Giáo dục và Đào tạo đánh giá.
Cũng theo báo cáo, năm học 2025-2026 có khoảng 4,82 triệu trẻ mầm non và 19,08 triệu học sinh phổ thông đến trường. Số học sinh vào lớp 10 năm học 2026-2027 tăng hơn 24% so với năm trước.
Tính cả giáo dục thường xuyên, tỷ lệ người trong độ tuổi học trung học phổ thông và tương đương đạt 77,7%; tỷ lệ đi học trong độ tuổi đạt 98,3% ở tiểu học, 93,3% ở trung học cơ sở và 67,5% ở trung học phổ thông. Các chỉ số này đều cao hơn năm học trước.
Chất lượng giáo dục mũi nhọn tiếp tục được khẳng định. Tại các kỳ Olympic quốc tế năm 2026, học sinh Việt Nam đồng hạng Nhất toàn đoàn môn Hóa học, đồng thời duy trì trong nhóm 5 đến 8 quốc gia dẫn đầu các môn Toán, Vật lý, Sinh học và Tin học trong số khoảng 100 quốc gia tham gia.
Hơn 90 chương trình tài năng STEM được triển khai
Về kết quả lĩnh vực giáo dục đại học, Bộ Giáo dục và Đào tạo cho biết đã có hơn 90 chương trình tài năng kỹ sư, thạc sĩ STEM được triển khai tại 23 cơ sở giáo dục đại học.
Tỷ lệ sinh viên STEM nhập học năm 2026 đạt 33,6%, tiến sát mục tiêu 35% vào năm 2030. Trong đó, khoảng 11.000 sinh viên học các ngành khoa học cơ bản và 110.000 sinh viên học các ngành kỹ thuật then chốt, công nghệ chiến lược.
Theo Bộ Giáo dục và Đào tạo, những con số này khẳng định cơ cấu ngành nghề trong đào tạo nhân lực chất lượng cao đang đi đúng hướng.
Đáng chú ý, tỷ lệ giảng viên đại học có trình độ tiến sĩ tăng từ 32,6% lên 36,3%. Số công bố khoa học quốc tế trong 8 tháng đầu năm 2026 bằng khoảng 80% cả năm 2025, ước cả năm tăng khoảng 20%.
Số chương trình đào tạo được công nhận theo tiêu chuẩn nước ngoài tăng từ 621 chương trình cuối năm 2024 lên 755 chương trình tháng 7/2026.
Đối với giáo dục nghề nghiệp, Luật Giáo dục nghề nghiệp năm 2025 và các văn bản hướng dẫn đã tạo cơ sở để cơ cấu lại mạng lưới, ngành nghề đào tạo; bổ sung mô hình trung học nghề, mở rộng tự chủ, liên thông và tăng vai trò của doanh nghiệp.
Chương trình mục tiêu quốc gia về hiện đại hóa giáo dục và đào tạo dành nguồn lực đáng kể để phát triển mạng lưới trường cao đẳng chất lượng cao.
Hơn 27 triệu học sinh đã được cập nhật trên cơ sở dữ liệu ngành
Một kết quả khác được Bộ Giáo dục và Đào tạo nhấn mạnh là chuyển đổi số đã chuyển từ xây dựng nền tảng sang khai thác dữ liệu và ứng dụng trí tuệ nhân tạo.
Cơ sở dữ liệu ngành đã cập nhật khoảng 50.000 cơ sở giáo dục, hơn 27 triệu học sinh và trên 1,4 triệu giáo viên; tạo lập trên 18 triệu học bạ số và hơn 13 triệu văn bằng, chứng chỉ số.
100% thí sinh đăng ký dự thi tốt nghiệp trung học phổ thông và xét tuyển đại học trực tuyến toàn trình, không dùng giấy tờ, tiền mặt.
Khung năng lực số cho người học và nhà giáo, bao gồm năng lực trí tuệ nhân tạo, được xây dựng và triển khai. Nền tảng quản trị số giáo dục quốc gia được thử nghiệm để sử dụng chung từ năm học 2026-2027.
Bên cạnh đó, chính sách đối với nhà giáo tiếp tục được hoàn thiện. Nghị định số 182/2026/NĐ-CP quy định mức phụ cấp ưu đãi nghề từ 20% đến 80% đối với nhà giáo, cán bộ quản lý cơ sở giáo dục và nhân sự hỗ trợ giáo dục trong cơ sở giáo dục công lập đã được triển khai.
Chương trình xây dựng trường phổ thông nội trú liên cấp tại các xã biên giới cũng được triển khai quyết liệt. 108 trường đợt đầu dự kiến đưa vào sử dụng từ đầu năm học mới, bổ sung 4.396 phòng học, 102 thư viện, bảo đảm điều kiện học tập cho hơn 113.000 học sinh.
Từ năm học 2026-2027 sử dụng một bộ sách giáo khoa giáo dục phổ thông thống nhất, giá bán giảm trung bình 13,3%.
Còn thiếu hơn 45.000 phòng học, 27.000 phòng học chức năng
Bên cạnh những kết quả đạt được, Bộ Giáo dục và Đào tạo thẳng thắn chỉ ra nhiều hạn chế, điểm nghẽn cần tập trung giải quyết.
Thứ nhất, năng lực tổ chức thực hiện chưa đồng đều; quản lý nhà nước về giáo dục ở cấp xã còn nhiều khó khăn.
Thứ hai, tình trạng thừa, thiếu giáo viên cục bộ chưa được khắc phục triệt để. Sau sắp xếp, dự báo năm học 2026-2027 còn cần bổ sung khoảng 43.267 biên chế giáo viên, trong khi còn 44.770 chỉ tiêu biên chế được giao nhưng chưa tuyển dụng và đang có khoảng 48.374 giáo viên hợp đồng.
Thứ ba, cơ sở vật chất chưa theo kịp quy mô người học. Cả nước còn thiếu khoảng 45.691 phòng học và 27.084 phòng học chức năng; vùng khó khăn còn 6.477 phòng học nhờ, mượn.
Mức đáp ứng thiết bị dạy học tối thiểu bình quân mới khoảng 50,6%.
Báo cáo cũng chỉ rõ bệnh thành tích, áp lực thi cử, dạy thêm, học thêm không đúng quy định, đặc biệt là gian lận thi cử vẫn xảy ra, có nơi rất nghiêm trọng.
Đối với giáo dục nghề nghiệp, Bộ Giáo dục và Đào tạo đánh giá lĩnh vực này chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu nhân lực kỹ năng cao; liên kết đào tạo - doanh nghiệp và đặt hàng đào tạo chưa phổ biến.
Trong giáo dục đại học, hạ tầng còn phân tán; chuyển dịch sang STEM rõ về quy mô nhưng chưa đồng đều về chất lượng; nghiên cứu, chuyển giao và quốc tế hóa còn khoảng cách so với yêu cầu.
Kỷ cương, an toàn trường học, chất lượng dữ liệu và năng lực khai thác công nghệ cũng vẫn còn những vấn đề cần xử lý quyết liệt và hiệu quả.
Năm học 2026-2027: “Đổi mới tư duy - Chuyển biến mạnh mẽ - Kết quả thực chất”
Năm học 2026-2027, toàn ngành Giáo dục xác định chủ đề: “Đổi mới tư duy - Chuyển biến mạnh mẽ - Kết quả thực chất”.
Theo Bộ Giáo dục và Đào tạo, trọng tâm là chuyển mạnh từ hoàn thiện thể chế sang tổ chức thực hiện, tập trung xử lý các điểm nghẽn và đo lường kết quả bằng sự tiến bộ của người học, điều kiện làm việc của nhà giáo, hiệu quả hoạt động của nhà trường và chất lượng nguồn nhân lực.
Toàn ngành tập trung vào 7 nhóm nhiệm vụ trọng tâm.
Một là, đổi mới mạnh mẽ quản trị giáo dục; hoàn thiện và triển khai trên nền tảng số các bộ chỉ số phát triển giáo dục quốc gia, địa phương và giáo dục đại học; cụ thể hóa mục tiêu Nghị quyết 71 thành chỉ số theo dõi hằng năm, có đường cơ sở, mốc trung gian đến năm 2030, rõ người, rõ việc, rõ thời gian, rõ sản phẩm, rõ thẩm quyền, rõ trách nhiệm.
Hai là, xử lý các điểm nghẽn về đội ngũ và cơ sở vật chất. Bộ xác định ưu tiên ngân sách và đầu tư công cho giáo viên, phòng học, thiết bị, trường nội trú biên giới, hạ tầng số, phòng thí nghiệm và đào tạo nhân lực chiến lược.
Ba là, nâng cao chất lượng giáo dục mầm non, phổ thông, kỷ cương và an toàn trường học; tiếp tục tinh giản nội dung, nâng chất lượng giờ học chính khóa, tăng thực hành, trải nghiệm, STEM, năng lực số, trí tuệ nhân tạo, ngoại ngữ, nghệ thuật và thể chất; từng bước đưa tiếng Anh thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học.
Bốn là, đẩy mạnh chuyển đổi số và ứng dụng trí tuệ nhân tạo; hoàn thiện nền tảng quản trị số giáo dục quốc gia, chuẩn hóa, làm sạch, kết nối, khai thác dữ liệu; phát triển ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong quản lý, dạy học, đánh giá và cá thể hóa học tập gắn với quyền riêng tư, an toàn dữ liệu và liêm chính học thuật.
Năm là, tăng tốc phát triển nhân lực kỹ năng nghề cao; cơ cấu lại mạng lưới, ngành nghề giáo dục nghề nghiệp theo nhu cầu thị trường, đưa doanh nghiệp tham gia thực chất vào chương trình, thực hành, đánh giá và tuyển dụng.
Sáu là, hiện đại hóa giáo dục đại học, phát triển nhân lực trình độ cao. Trong đó, kiểm soát tăng quy mô gắn với điều kiện bảo đảm chất lượng; ưu tiên STEM và công nghệ chiến lược gắn với chất lượng đầu vào, đội ngũ, phòng thí nghiệm và việc làm.
Bảy là, nâng cao hiệu quả hợp tác và hội nhập quốc tế, chuyển từ số lượng thỏa thuận sang sản phẩm, kết quả cụ thể; ưu tiên hợp tác trong STEM, bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, công nghệ số, công nghệ sinh học, năng lượng và vật liệu mới.