Tại Thông báo số 500/TB-VPCP, Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Tiến Châu yêu cầu Bộ Giáo dục và Đào tạo tiếp tục sắp xếp mạng lưới cơ sở đào tạo giáo viên theo hướng thu gọn đầu mối, chấm dứt đào tạo sư phạm ở các trường không phải trường sư phạm, kém chất lượng.
Cùng với đó, Chính phủ yêu cầu Bộ Giáo dục và Đào tạo đổi mới cơ chế tuyển sinh ngành sư phạm, trong đó bổ sung cơ chế đánh giá năng lực nghề nghiệp, yếu tố tâm lý sư phạm ngay từ đầu vào; đồng thời cải tiến cơ chế kiểm định theo hướng thực chất, có khả năng đo lường tác động đối với chất lượng đầu ra và khả năng thích ứng của sinh viên sau khi tốt nghiệp.
Nhiều chuyên gia cho rằng, điều này sẽ giúp các cơ sở đào tạo có thêm căn cứ để nhận diện mức độ phù hợp của thí sinh với nghề giáo.
Tìm ra người phù hợp với nghề sư phạm ngay từ đầu vào
Trao đổi với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Vũ Thu Hoài - giảng viên Khoa Sư phạm, Trường Đại học Giáo dục, Đại học Quốc gia Hà Nội, cho rằng việc đổi mới tuyển sinh theo hướng này có ý nghĩa trong việc giúp người học xác định rõ tâm thế, vai trò và yêu cầu của nghề giáo ngay từ đầu. Qua đó, thí sinh có thể nhận thức đầy đủ hơn về những chuẩn năng lực cần đạt, từ kiến thức, kỹ năng đến thái độ nghề nghiệp, làm cơ sở để chủ động chuẩn bị cho quá trình đào tạo và đáp ứng yêu cầu chuyên môn, nghiệp vụ sư phạm sau khi ra trường.
Theo cô Hoài, bên cạnh các kỳ thi năng khiếu đối với những ngành, môn học đặc thù như Mỹ thuật, Âm nhạc, Giáo dục Mầm non, các cơ sở đào tạo sư phạm có thể nghiên cứu bổ sung những bài đánh giá chung về một số năng lực đặc thù và kỹ năng nghề nghiệp của giáo viên.
Điều này có ý nghĩa bởi trên thực tế, bởi có trường hợp lựa chọn ngành học theo định hướng của gia đình hoặc do được hưởng chính sách hỗ trợ kinh phí đào tạo. Việc đánh giá động lực và mức độ phù hợp với nghề ngay từ đầu vào có thể giúp người học nhận diện rõ hơn lựa chọn của mình, đồng thời giúp cơ sở đào tạo có thêm căn cứ để tổ chức quá trình đào tạo phù hợp.
Cùng bàn luận về chủ đề này, bà Tăng Thị Ngọc Mai – Đại biểu Quốc hội khóa XIV, nguyên Phó Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo Trà Vinh (cũ) bày tỏ, hiện nay, việc tuyển sinh nhiều ngành sư phạm chủ yếu dựa trên điểm thi và kết quả học tập của thí sinh. Tuy nhiên, những tiêu chí này chưa đủ để đánh giá một người có phù hợp với nghề giáo hay không.
“Không phải cứ tuyển được người có điểm số cao thì khi ra trường họ sẽ làm tốt công việc giáo viên. Điều cần quan tâm là sau quá trình đào tạo, họ có đủ năng lực để thực hiện nhiệm vụ hay không” - bà Mai nhấn mạnh.
Trong đó, bà Mai rất tán thành việc đánh giá yếu tố tâm lý sư phạm. Giáo viên không chỉ cần năng lực chuyên môn mà còn phải có khả năng ứng xử, quản lý lớp học và hiểu tâm lý học sinh để đưa ra cách hỗ trợ phù hợp với từng đối tượng.
Đặc biệt ở cấp trung học cơ sở, học sinh đang ở giai đoạn chuyển tiếp, “không còn là trẻ con nhưng cũng chưa phải người lớn”. Trong khi đó, các em ngày càng có điều kiện tiếp cận nhiều nguồn thông tin từ Internet và mạng xã hội. Vì vậy, giáo viên cần có năng lực tâm lý sư phạm để hiểu học sinh, định hướng và xử lý phù hợp những vấn đề phát sinh trong quá trình giáo dục.
“Giáo viên phải là người hiểu tâm lý của các em và có giải pháp phù hợp cho từng đối tượng học sinh. Vì vậy, việc đánh giá năng lực tâm lý là rất quan trọng” – bà Mai nhấn mạnh.
Trước lo ngại việc siết chặt đầu vào ngành sư phạm có thể gây khó khăn cho thí sinh, Giáo sư, Tiến sĩ, Nhà giáo ưu tú Cao Cự Giác – chuyên gia cao cấp tại Trường Sư phạm, Trường Đại học Vinh cho rằng, kinh nghiệm từ Phần Lan, Singapore và nhiều quốc gia có nền giáo dục phát triển cho thấy, chất lượng đào tạo giáo viên không phụ thuộc vào việc mở rộng quy mô mà trước hết nằm ở chất lượng tuyển chọn và đầu tư cho đào tạo.
Theo thầy Giác, nghề giáo cần được đặt ở vị trí cao trong chiến lược phát triển nguồn nhân lực, với yêu cầu tuyển chọn những người có năng lực, phẩm chất phù hợp. Việc siết chặt đầu vào không nên được hiểu đơn thuần là tăng yêu cầu đối với thí sinh, mà cần hướng đến nâng cao chất lượng đào tạo và giá trị nghề nghiệp của đội ngũ giáo viên.
“Đã đến lúc giáo dục sư phạm cần trở về đúng giá trị cốt lõi: thắt chặt tuyển chọn để nâng cao chất lượng, chuẩn hóa đào tạo để đáp ứng yêu cầu của tương lai. Bởi chất lượng giáo dục phụ thuộc rất lớn vào năng lực và tâm huyết của người thầy” - thầy Giác nhấn mạnh.
Nhiều biện pháp nâng cao năng lực nghề nghiệp của sinh viên
Không chỉ siết chặt đầu vào sư phạm, Chính phủ cũng yêu cầu cải tiến cơ chế kiểm định theo hướng thực chất, có khả năng đo lường tác động đối với chất lượng đầu ra và khả năng thích ứng của sinh viên sau khi tốt nghiệp.
Thầy Giác cho rằng, một cơ sở đào tạo sư phạm chất lượng cao phải có bốn trụ cột giữ vai trò nền tảng.
Trước hết là đội ngũ giảng viên có năng lực chuyên môn vững vàng, đồng thời am hiểu khoa học giáo dục và thực tiễn phổ thông. Giảng viên sư phạm không chỉ truyền đạt kiến thức chuyên ngành mà còn phải giúp sinh viên hình thành năng lực nghề nghiệp, phương pháp dạy học, kỹ năng xử lý các tình huống giáo dục và khả năng thích ứng với những thay đổi của chương trình giáo dục phổ thông.
Thứ hai là cơ chế tuyển sinh đủ chặt chẽ để lựa chọn được những thí sinh có năng lực, tố chất và động lực phù hợp với nghề giáo. Theo thầy Giác, tuyển sinh sư phạm không nên chỉ dựa vào điểm số mà cần quan tâm đến những yếu tố liên quan trực tiếp đến năng lực nghề nghiệp, phẩm chất và tâm huyết của người học. Đây là bước đầu tiên để bảo đảm chất lượng đội ngũ giáo viên ngay từ đầu vào.
Trụ cột thứ ba là môi trường thực hành nghề nghiệp gắn với công nghệ. Sinh viên sư phạm cần được tiếp cận thường xuyên với trường phổ thông, được thực hành giảng dạy, xử lý tình huống lớp học và trải nghiệm những yêu cầu thực tế của nghề. Cùng với đó, các cơ sở đào tạo cần xây dựng hệ thống thực hành số, khai thác công nghệ và các công cụ hiện đại để sinh viên có khả năng sử dụng công nghệ trong thiết kế bài dạy, kiểm tra đánh giá và tổ chức hoạt động học tập.
Cuối cùng là chuẩn đầu ra thực chất, phản ánh đúng năng lực mà một giáo viên cần có khi bước vào nghề. Chuẩn đầu ra không nên dừng ở việc hoàn thành chương trình hay đạt đủ số tín chỉ mà phải cho thấy sinh viên có thể thực hiện được những nhiệm vụ nghề nghiệp cụ thể, từ chuyên môn, phương pháp giảng dạy đến quản lý lớp học, ứng xử với học sinh và thích ứng với sự thay đổi của giáo dục.
Cô Hoài cho hay, tại Trường Đại học Giáo dục, Đại học Quốc gia Hà Nội, năng lực thực tế của sinh viên được tổ chức hình thành và phát triển theo mục tiêu, chuẩn đầu ra của chương trình đào tạo. Theo đó, chương trình hướng tới đào tạo nguồn nhân lực giáo viên có năng lực chung, năng lực đặc thù và năng lực số, đồng thời chú trọng rèn luyện khả năng tự học, tự rèn nghề cho sinh viên.
Sinh viên cũng được tạo điều kiện tiếp cận môi trường thực tế tại các trường phổ thông công lập, trường chất lượng cao, trường liên cấp, trường song ngữ... Qua quá trình này, người học có cơ hội vận dụng kiến thức đã được trang bị, rèn luyện kỹ năng nghề nghiệp và từng bước thích ứng với yêu cầu thực tế của công việc.
“Việc đánh giá năng lực sinh viên cũng được thực hiện theo nhiều hình thức, kết hợp các phương pháp khác nhau phù hợp với mục tiêu và yêu cầu của chương trình đào tạo. Cách tiếp cận này giúp việc đánh giá không chỉ dừng ở kiến thức mà còn chú trọng khả năng vận dụng, kỹ năng nghề nghiệp và mức độ đáp ứng chuẩn đầu ra của sinh viên” – cô Hoài bày tỏ.
Bà Mai cũng cho rằng, siết chặt đầu vào chỉ là một phần trong nâng cao chất lượng đào tạo giáo viên. Quan trọng không kém là phải đánh giá thực chất đầu ra, không chỉ dựa trên kết quả học tập mà cần đo lường khả năng vận dụng kiến thức, năng lực nghề nghiệp và mức độ thích ứng của sinh viên sau khi tốt nghiệp. Đây cũng là cơ sở để các cơ sở đào tạo điều chỉnh chương trình, phương pháp đào tạo sát hơn với yêu cầu thực tế.
Bên cạnh đào tạo đội ngũ giáo viên mới, bà Mai cho rằng cần quan tâm đến khoảng 2 triệu giáo viên phổ thông đang công tác thông qua rà soát, bồi dưỡng và đào tạo lại. Nội dung này cần gắn với những yêu cầu mới của giáo dục, giúp giáo viên củng cố chuyên môn, kỹ năng sư phạm, khả năng xử lý tình huống và thích ứng với những thay đổi trong môi trường dạy học.