Khi chấm dứt đào tạo sư phạm ở những cơ sở không chuyên sẽ mang lại lợi ích gì cho người học?

01/10/2026 06:20
Trần Trang
Theo dõi trên Google News
0:00 / 0:00
0:00

GDVN -Khi các cơ sở đào tạo sư phạm phải đáp ứng những chuẩn mực rõ ràng và được kiểm soát về chất lượng, thí sinh sẽ có thêm cơ sở để lựa chọn nơi học tập phù hợp.

Tại Thông báo số 500/TB-VPCP kết luận cuộc họp về các nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm để giải quyết căn bản tình trạng thừa, thiếu giáo viên, gắn với nâng cao chất lượng đào tạo sư phạm, Phó Thủ tướng Lê Tiến Châu yêu cầu Bộ Giáo dục và Đào tạo chấm dứt tình trạng đào tạo sư phạm ở các trường không phải là trường sư phạm, kém chất lượng.

Đồng thời, tập trung nguồn lực phát triển một số trường đại học sư phạm trọng điểm với các tiêu chuẩn, tiêu chí rõ ràng và được đầu tư bài bản, vượt trội; bảo đảm các trường sư phạm trọng điểm phải phát triển trên 3 trụ cột: Đào tạo - Nghiên cứu khoa học - Chuyển giao công nghệ.

Lãnh đạo nhiều trường đại học cho rằng chủ trương siết chặt đào tạo sư phạm là cần thiết, góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên, đồng thời bảo đảm sự công bằng đối với sinh viên theo học ngành này.

Tăng minh bạch, công bằng trong đào tạo ngành sư phạm

Trao đổi với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, Tiến sĩ Lê Hồ Sơn - Hiệu trưởng Trường Đại học Sư phạm, Đại học Huế chia sẻ: “Theo tôi, việc siết chặt đào tạo ngành sư phạm là một chủ trương cần thiết trong bối cảnh yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục đang đặt ra ngày càng cao đối với đội ngũ nhà giáo. Điều này trước hết nhằm bảo đảm người học ngành sư phạm được đào tạo trong một môi trường thực sự chuyên nghiệp, có đủ điều kiện về đội ngũ giảng viên, chương trình đào tạo, cơ sở vật chất, thực hành – thực tập và hệ thống bảo đảm chất lượng.

Đối với thí sinh, lợi ích quan trọng nhất là tăng niềm tin và tính minh bạch khi lựa chọn ngành học. Khi các cơ sở đào tạo sư phạm phải đáp ứng những chuẩn mực rõ ràng và được kiểm soát về chất lượng, thí sinh và gia đình sẽ có thêm cơ sở để lựa chọn nơi học tập phù hợp, thay vì chỉ dựa vào tên ngành hay thông tin tuyển sinh”.

image-1.jpg
Tiến sĩ Lê Hồ Sơn - Hiệu trưởng Trường Đại học Sư phạm, Đại học Huế. Ảnh: NVCC

Mặt khác, thầy Sơn cho rằng siết chặt chất lượng đào tạo cũng góp phần nâng cao giá trị của nghề giáo. Người học sư phạm được học tập trong môi trường có yêu cầu cao sẽ hình thành tốt hơn cả năng lực chuyên môn, năng lực sư phạm, phẩm chất nghề nghiệp và ý thức trách nhiệm với người học.

Đây là những yếu tố đặc biệt quan trọng bởi sản phẩm của đào tạo sư phạm không chỉ là một tấm bằng, mà là một đội ngũ nhà giáo có ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng giáo dục và sự phát triển của thế hệ tương lai.

“Siết chặt không nên được hiểu đơn thuần là giảm số lượng cơ sở đào tạo, mà quan trọng hơn là siết chặt các điều kiện bảo đảm chất lượng và chuẩn đầu ra, đồng thời tạo cơ chế để những cơ sở có năng lực thực sự phát huy vai trò. Khi chất lượng được đặt ở vị trí trung tâm, chính sinh viên sư phạm sẽ là những người được hưởng lợi lâu dài nhất” – thầy Sơn bày tỏ.

Cùng bàn luận về chủ đề này, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Hoàng Thị Thu Giang - Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Hạ Long cho biết: "Nhà trường hoàn toàn đồng thuận và đánh giá rất cao chủ trương quyết liệt của Chính phủ trong việc rà soát, siết chặt công tác đào tạo giáo viên tại các cơ sở kém chất lượng, đồng thời đổi mới mạnh mẽ cơ chế tuyển sinh ngành sư phạm. Đây là bước đi tất yếu, mang tính bước ngoặt nhằm chuẩn hóa đội ngũ nhà giáo trong kỷ nguyên mới".

Theo cô Giang, nhiều người e ngại “siết chặt” sẽ tạo thêm rào cản, nhưng dưới góc độ quản lý giáo dục và quyền lợi của người học, việc sàng lọc và kiểm soát chặt chẽ quy trình đào tạo chính là chiếc phao bảo vệ thiết thực nhất dành cho thí sinh, mang lại ba giá trị cốt lõi:

Thứ nhất, nâng cao giá trị thực chất của văn bằng và vị thế nghề nghiệp. Nhiều năm trước đây, sự nở rộ của các chương trình đào tạo sư phạm ở những đơn vị thiếu thốn cơ sở vật chất và đội ngũ đã dẫn đến tình trạng "lạm phát" bằng cấp, gây bất công cho những sinh viên được đào tạo bài bản. Khi Chính phủ siết chặt chuẩn đầu ra và quy chuẩn trường lớp, tấm bằng cử nhân sư phạm từ các cơ sở đào tạo uy tín sẽ là bảo chứng thép cho năng lực nghề nghiệp, giúp các em tự tin cạnh tranh bình đẳng, khẳng định phẩm chất nhà giáo và nhận được sự tôn trọng xứng tầm từ xã hội.

Thứ hai, định hình cơ hội việc làm rõ ràng, đúng địa chỉ qua cơ chế đặt hàng. Siết chặt đào tạo đi đôi với việc gắn kết chỉ tiêu tuyển sinh theo cơ chế đặt hàng, giao nhiệm vụ của địa phương theo tinh thần Nghị định 116/2020/NĐ-CP. Người học không còn phải chịu cảnh tốt nghiệp rồi tự bơi trong thị trường lao động. Thí sinh trúng tuyển sư phạm tại các cơ sở uy tín được quy hoạch việc làm từ sớm theo nhu cầu tuyển dụng thực tế của ngành giáo dục địa phương và khu vực lân cận, xóa bỏ triệt để nghịch lý “nơi thừa vẫn thừa, nơi thiếu giáo viên vẫn thiếu”.

Thứ ba, bảo đảm quyền lợi tối đa về môi trường rèn nghề và chính sách an sinh. Học sư phạm tại các đơn vị đáp ứng tiêu chuẩn nghiêm ngặt đồng nghĩa với việc người học được thụ hưởng sự đầu tư từ cơ sở vật chất, hệ thống phòng thí nghiệm bộ môn hiện đại đến nguồn học bổng, chính sách hỗ trợ sinh hoạt phí theo Nghị định 116 và các cơ chế đãi ngộ đặc thù dành cho sinh viên xuất sắc. Quan trọng hơn cả, sinh viên được rèn giũa đạo đức, tác phong trong một môi trường sư phạm mẫu mực, nhân văn.

c-giang-4091-3730.jpg
Phó giáo sư, Tiến sĩ Hoàng Thị Thu Giang - Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Hạ Long. Ảnh: NVCC

Theo Tiến sĩ Phan Đức Tuấn - Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Sư phạm, Đại học Đà Nẵng, việc siết chặt đào tạo sư phạm không phải là rào cản đối với người học, mà là giải pháp bảo đảm quyền lợi của sinh viên và nâng cao giá trị của nghề giáo.

Theo đó, việc chuẩn hóa chương trình, tăng cường thực hành sư phạm và nâng yêu cầu đầu ra sẽ giúp sinh viên sau khi tốt nghiệp không chỉ vững chuyên môn mà còn có năng lực đứng lớp, hiểu tâm lý học đường và ứng dụng công nghệ, trí tuệ nhân tạo trong dạy học. Khi năng lực nghề nghiệp được đặt ở vị trí trung tâm, giá trị của tấm bằng sư phạm cũng được phản ánh rõ hơn qua khả năng đáp ứng công việc thực tế.

Bên cạnh đó, đào tạo giáo viên cần chuyển từ tư duy dựa vào khả năng cung ứng sang gắn với nhu cầu nhân lực thực tế và dữ liệu dự báo. Quy mô tuyển sinh được điều chỉnh phù hợp với nhu cầu sử dụng của từng địa phương sẽ giúp thí sinh có thêm thông tin khi lựa chọn ngành học, đồng thời hạn chế tình trạng đào tạo vượt nhu cầu, dẫn đến thừa hoặc thiếu giáo viên cục bộ.

"Việc tập trung nguồn lực vào các trường sư phạm trọng điểm/chủ chốt giúp sinh viên được học tập trong một hệ sinh thái giáo dục hoàn chỉnh: từ giảng đường, phòng thí nghiệm hiện đại đến mạng lưới trường phổ thông thực hành đạt chuẩn" - thầy Tuấn cho hay.​

555080287-1253023149961153-6824667404354807350-n.jpg
Tiến sĩ Phan Đức Tuấn - Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Sư phạm, Đại học Đà Nẵng. Ảnh: Website nhà trường

Cần nhiều tiêu chí để xác định một cơ sở đào tạo sư phạm chất lượng

Đặt ra yêu cầu nâng tầm đào tạo sư phạm cũng đồng nghĩa phải rà soát, nhận diện những cơ sở thực sự có đủ năng lực và điều kiện để đào tạo giáo viên. Theo Phó Giáo sư, Tiến sĩ Hoàng Thị Thu Giang, để đánh giá một cơ sở giáo dục có đủ năng lực hay không cần nhìn vào chất lượng đào tạo thực tế.

"Trường Đại học Hạ Long có tiền thân là Trường Cao đẳng Sư phạm Quảng Ninh, với hơn 67 năm truyền thống đào tạo và bồi dưỡng các thế hệ nhà giáo. Do đó, trường luôn xác định đào tạo ngành sư phạm không đơn thuần là tuyển sinh đủ chỉ tiêu, mà là sứ mệnh chính trị - xã hội thiêng liêng: ươm mầm đội ngũ nhà giáo chất lượng cao phục vụ trực tiếp cho sự phát triển của tỉnh Quảng Ninh và khu vực Đông Bắc Bộ" - cô Giang bày tỏ.

Từ thực tiễn đào tạo, cô cho rằng có nhiều yếu tố đánh giá một cơ sở chất lượng. Cơ sở đào tạo bắt buộc phải đạt tiêu chuẩn kiểm định chất lượng giáo dục đối với cấp cơ sở và từng chương trình đào tạo sư phạm. Khung chương trình phải được thiết kế mở, linh hoạt, tích hợp các kỹ năng giáo dục hiện đại: ứng dụng công nghệ thông tin, trí tuệ nhân tạo trong soạn giảng, kỹ năng tham vấn tâm lý học đường và giáo dục hòa nhập.

Đặc biệt, thước đo chuẩn xác nhất cho chất lượng đào tạo chính là sự hài lòng của cơ sở sử dụng lao động. Cơ sở đào tạo phải chủ động tham mưu, nắm bắt bài toán thiếu hụt cục bộ giáo viên ở các địa bàn đặc thù (như vùng sâu, vùng xa, hải đảo) để đào tạo "đúng và trúng". Tỷ lệ sinh viên ra trường thích ứng ngay với công việc mà không cần đào tạo lại chính là cam kết chất lượng cao nhất của một trường đại học.

dsc02620-scaled.jpg
Ảnh minh họa: Trường Đại học Sư phạm, Đại học Đà Nẵng

Tiến sĩ Lê Hồ Sơn nhận định, một cơ sở đào tạo sư phạm chất lượng cần được nhìn nhận một cách toàn diện, hội tụ 5 yếu tố cốt lõi.

Thứ nhất, phải có đội ngũ giảng viên đủ mạnh và đúng chuyên môn. Đội ngũ giảng viên sư phạm không chỉ cần có trình độ chuyên môn, mà còn phải có năng lực nghiên cứu, năng lực sư phạm đại học, kinh nghiệm thực tiễn và khả năng cập nhật những thay đổi của giáo dục phổ thông. Đặc biệt, giảng viên đào tạo giáo viên phải thực sự am hiểu nghề nghiệp mà sinh viên sẽ theo đuổi.

Thứ hai, chương trình đào tạo phải hiện đại, linh hoạt và gắn với yêu cầu thực tiễn. Chương trình cần hướng mạnh vào chuẩn đầu ra, phát triển năng lực nghề nghiệp của người học; đồng thời tăng cường các nội dung về chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo, giáo dục hòa nhập, STEM/STEAM, đổi mới phương pháp dạy học và đánh giá học sinh. Sinh viên sư phạm phải được chuẩn bị để thích ứng với sự thay đổi rất nhanh của nhà trường và xã hội.

Thứ ba, phải coi trọng thực hành nghề nghiệp và mối liên kết với các cơ sở giáo dục phổ thông. Đào tạo giáo viên không thể chỉ diễn ra trong giảng đường đại học. Sinh viên cần được quan sát, trải nghiệm, thực hành, thực tập và giải quyết những tình huống nghề nghiệp thực tế dưới sự hướng dẫn của giảng viên đại học và giáo viên phổ thông có kinh nghiệm.

Thứ tư, phải có năng lực nghiên cứu khoa học giáo dục và chuyển giao tri thức. Một trường sư phạm chất lượng không chỉ đào tạo giáo viên mà còn phải góp phần giải quyết những vấn đề của giáo dục thông qua nghiên cứu khoa học. Nghiên cứu phải quay trở lại phục vụ đào tạo, phục vụ nhà trường phổ thông và góp phần hoạch định, triển khai các chính sách giáo dục.

Thứ năm, phải có hệ thống bảo đảm chất lượng thực chất và văn hóa chất lượng. Mọi hoạt động từ tuyển sinh, đào tạo, đánh giá người học, phát triển đội ngũ đến khảo sát việc làm và phản hồi của các bên liên quan cần được theo dõi, cải tiến thường xuyên. Chất lượng không nên được hiểu là một kết quả đạt được tại một thời điểm, mà phải là một quá trình cải tiến liên tục.

“Tôi cho rằng, thước đo quan trọng nhất của một cơ sở đào tạo sư phạm vẫn là chất lượng và sự trưởng thành nghề nghiệp của người giáo viên sau khi tốt nghiệp. Một trường sư phạm có chất lượng phải tạo được niềm tin cho người học, cho các cơ sở giáo dục sử dụng nhân lực và cho xã hội về năng lực của những nhà giáo do mình đào tạo” – thầy Sơn bày tỏ.

Trong khi đó thầy Tuấn cho rằng, trường sư phạm không chỉ là nơi đào tạo nghề giáo mà phải trở thành một trung tâm tri thức, nơi đào tạo gắn chặt với nghiên cứu khoa học giáo dục và đưa kết quả nghiên cứu vào giải quyết những vấn đề thực tiễn của trường phổ thông.

Theo đó, các cơ sở đào tạo cần có mạng lưới trường thực hành vệ tinh gồm các cơ sở giáo dục phổ thông và mầm non, hình thành hệ sinh thái đào tạo sư phạm mở. Đây vừa là môi trường nghiên cứu, thử nghiệm và ứng dụng những phương pháp dạy học mới, vừa giúp sinh viên sớm tiếp cận thực tiễn, qua đó rèn luyện năng lực nghề nghiệp ngay trong quá trình đào tạo.

Theo thầy Tuấn, hiệu quả của một trường sư phạm không nên chỉ được nhìn qua số lượng tiến sĩ hay chương trình được kiểm định, mà cần được phản ánh bằng năng lực thực tế của sinh viên khi bước vào lớp học và khả năng làm đúng nghề sau tốt nghiệp.

Vì vậy, nhà trường cần xây dựng hệ thống dữ liệu theo dõi quá trình nghề nghiệp của cựu sinh viên, từ đó thu nhận phản hồi và liên tục điều chỉnh chương trình đào tạo.

Trần Trang