Chuẩn cơ sở giáo dục nghề nghiệp: Đề xuất phân hóa diện tích đất/người học theo nhóm ngành đào tạo

11/10/2026 06:23
Đình Nam
Theo dõi trên Google News
0:00 / 0:00
0:00

GDVN - Theo đại diện một số trường cao đẳng, tỷ lệ người học trên nhà giáo quy đổi tối đa 30 là phù hợp, nhưng cần tính toán kỹ lưỡng về quy định diện tích đất/người học dựa trên đặc thù quy mô và thời gian đào tạo.

Bộ Giáo dục và Đào tạo đã công bố dự thảo Thông tư sửa đổi, bổ sung Thông tư số 38/2026/TT-BGDĐT ngày 29/04/2026 về Chuẩn cơ sở giáo dục nghề nghiệp để lấy ý kiến góp ý.

Một trong những điểm mới đáng chú ý của dự thảo là cụ thể hóa yêu cầu về đội ngũ nhà giáo gắn với quy mô đào tạo. Điểm c, Khoản 1, Điều 1 dự thảo quy định “Số lượng nhà giáo đáp ứng yêu cầu theo quy mô đào tạo, bảo đảm tỷ lệ người học trên nhà giáo quy đổi tối đa 30”.

Nội dung này đang nhận được sự quan tâm lớn của các cơ sở giáo dục nghề nghiệp, trong đó, đại diện một số trường cao đẳng cho rằng mức tối đa 30 người học trên một nhà giáo quy đổi là phù hợp, nhưng cần tính toán kỹ lưỡng về quy định diện tích đất/người học.

Tối đa 30 người học trên một nhà giáo quy đổi là phù hợp

Trao đổi với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, Tiến sĩ Vũ Quang Khuê - Hiệu trưởng Trường Cao đẳng Công nghiệp Bắc Ninh cho rằng, quy định tối đa 30 người học trên một nhà giáo quy đổi trong dự thảo sửa đổi, bổ sung quy định về chuẩn cơ sở giáo dục nghề nghiệp là phù hợp với xu hướng phát triển hiện nay.

Theo thầy Khuê, hiện giáo dục nghề nghiệp đang có những thay đổi đáng kể về phương thức tổ chức đào tạo, đặc biệt là việc ứng dụng nền tảng số, trí tuệ nhân tạo và mô hình đào tạo kết hợp (blended learning). Do đó, số lượng giảng viên được sử dụng để giảng dạy với quy mô nhiều hơn.

Cùng với đó, trí tuệ nhân tạo đang hỗ trợ giảng viên trong nhiều khâu như chuẩn bị bài giảng, xây dựng dữ liệu số, video và các quy trình thực nghiệm. Việc này giúp rút ngắn thời gian chuẩn bị, tạo điều kiện để giảng viên dành nhiều thời gian hơn cho hoạt động giảng dạy và hướng dẫn trực tiếp người học.

Một yếu tố khác, theo thầy Khuê, là sự tham gia ngày càng sâu của doanh nghiệp vào quá trình đào tạo nghề. Tại Trường Cao đẳng Công nghiệp Bắc Ninh hiện có khoảng 5 mô hình kết hợp với doanh nghiệp. Các chuyên gia, kỹ sư và nhân lực của doanh nghiệp tham gia ngày càng sâu vào quá trình đào tạo, nhất là ở những lĩnh vực công nghệ mới.

Do đó, giảng viên cơ hữu không còn là lực lượng duy nhất trực tiếp đảm nhiệm toàn bộ quá trình đào tạo. Người học có thể được đào tạo tại doanh nghiệp, theo mô hình đào tạo song hành hoặc tại các trung tâm, nhà xưởng của doanh nghiệp.

762677025-1662570609205650-4008379660317576360-n.jpg
Tiến sĩ Vũ Quang Khuê - Hiệu trưởng Trường Cao đẳng Công nghiệp Bắc Ninh. Ảnh: website nhà trường

Từ thực tế này, Hiệu trưởng Trường Cao đẳng Công nghiệp Bắc Ninh nhận định mức tối đa 30 người học cho một giảng viên cơ hữu, sẽ phù hợp hơn với xu hướng phát triển của giáo dục nghề nghiệp.

Đề cập việc tỷ lệ người học/nhà giáo trong giáo dục nghề nghiệp được đề xuất thấp hơn chuẩn của giáo dục đại học (40 người học/nhà giáo), Tiến sĩ Vũ Quang Khuê cho rằng sự khác biệt này phản ánh đặc thù đào tạo của hai hệ thống.

“Giáo dục đại học đào tạo nguồn nhân lực nghiên cứu chuyên sâu, nặng về hàn lâm cũng như khả năng tự học. Còn giáo dục nghề nghiệp hướng ra thị trường lao động, đào tạo kỹ thuật viên, kỹ thuật viên sản xuất và lao động trực tiếp đứng máy ở các nhà máy, công xưởng.

Vì vậy, người học nghề cần được chú trọng nhiều hơn về kỹ năng thực hành, trực tiếp làm việc với máy móc, thiết bị và quy trình sản xuất. Việc quy định tỷ lệ 30 người học/nhà giáo, thấp hơn mức 40 người của giáo dục đại học là phù hợp với đặc thù này”, Hiệu trưởng Trường Cao đẳng Công nghiệp Bắc Ninh cho hay.

Đồng quan điểm, Tiến sĩ Phùng Quý Sơn - Phó Hiệu trưởng phụ trách Trường Cao đẳng Lạng Sơn khẳng định, tỷ lệ người học trên nhà giáo quy đổi tối đa 30 là tương đối phù hợp với đặc thù của giáo dục nghề nghiệp.

Theo thầy Sơn, giáo dục nghề nghiệp chú trọng thực hành, thực tập và hình thành kỹ năng nghề; nhà giáo phải trực tiếp hướng dẫn, theo dõi, đánh giá người học và bảo đảm an toàn trong quá trình thực hành. Vì vậy, việc quy định tỷ lệ thấp hơn giáo dục đại học (không lớn hơn 40) là có cơ sở thực tiễn.

“Tuy nhiên, nên xác định 30 người học là mức tối đa và không áp dụng cứng nhắc cho tất cả ngành, nghề. Có thể phân hóa theo tỷ lệ lý thuyết – thực hành, đặc thù nghề và yêu cầu an toàn; những ngành có tỷ trọng thực hành cao nên bố trí tỷ lệ thấp hơn để nhà giáo có đủ điều kiện hướng dẫn và kiểm soát chất lượng đào tạo”, Tiến sĩ Phùng Quý Sơn bày tỏ.

Ngoài ra, dự thảo cũng làm rõ cách tính tổng số nhà giáo quy đổi, không chỉ gồm nhà giáo cơ hữu mà còn tính nhà giáo đồng cơ hữu, nhà giáo hợp đồng toàn thời gian sau nghỉ hưu, nhà giáo thỉnh giảng và cán bộ quản lý có tham gia giảng dạy, dựa trên khối lượng giảng dạy thực tế.

Cũng theo Phó Hiệu trưởng phụ trách Trường Cao đẳng Lạng Sơn, cách tính nhà giáo quy đổi dựa trên khối lượng giảng dạy thực tế là phù hợp và sát với thực tế sử dụng đội ngũ của các trường cao đẳng. Cách tính này phản ánh đầy đủ hơn nguồn lực đào tạo, không chỉ giới hạn ở đội ngũ cơ hữu mà còn tính đến nhà giáo đồng cơ hữu, thỉnh giảng, hợp đồng và cán bộ quản lý có tham gia giảng dạy.

ts-phung-quy-son.jpg
Tiến sĩ Phùng Quý Sơn - Phó Hiệu trưởng phụ trách Trường Cao đẳng Lạng Sơn. Ảnh: website nhà trường

Trong khi đó, theo Thạc sĩ Hồ Nguyễn Cúc Phương - Trưởng phòng, Phòng Đào tạo, Trường Cao đẳng Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh, khi quy định tỷ lệ người học trên nhà giáo cần tính đến đặc thù của từng nhóm ngành. Giáo dục nghề nghiệp lấy thực hành, rèn luyện kỹ năng nghề làm trọng tâm, trong đó thời lượng thực hành ở nhiều chương trình có thể chiếm 60-70%.

Cô Phương cho rằng, với các ngành kỹ thuật, nhà giáo phải trực tiếp quan sát, hướng dẫn, sửa lỗi thao tác và bảo đảm an toàn lao động, vì vậy mức khoảng 30 người học/nhà giáo quy đổi là phù hợp; khi thực hành cần chia nhóm khoảng 10-15 người học/nhà giáo để bảo đảm chất lượng và an toàn.

Còn với khối ngành Kinh tế như các ngành Kế toán, Quản trị kinh doanh, Tài chính - Ngân hàng, Marketing..., hoạt động đào tạo chủ yếu là lý thuyết, thảo luận, phân tích tình huống và thực hành trên máy tính, phần mềm; không đòi hỏi xưởng thực hành hay hướng dẫn thao tác có rủi ro cao như các ngành kỹ thuật.

Vì vậy, có cơ sở để xem xét nâng tỷ lệ lên khoảng 35-40 người học/nhà giáo quy đổi. Một số học phần lý thuyết có thể tổ chức lớp 40-50 người, trong khi các giờ thực hành phần mềm vẫn có thể được quản lý hiệu quả nhờ công nghệ và các nền tảng học tập số.

“Việc phân hóa tỷ lệ theo nhóm ngành cũng giúp các trường sử dụng hiệu quả đội ngũ nhà giáo và kiểm soát chi phí. Nếu áp dụng cứng mức tối đa 30 người học/nhà giáo cho cả khối Kinh tế, các trường sẽ phải chia nhỏ lớp, tăng giờ giảng và tuyển thêm nhân sự, qua đó làm tăng chi phí đào tạo, tạo áp lực lên học phí hoặc nguồn lực đầu tư cho cơ sở vật chất.

Do đó, quy định nên được xây dựng dựa trên tính chất ngành nghề, tỷ trọng thực hành, mức độ rủi ro và phương pháp tổ chức đào tạo, thay vì áp dụng một tỷ lệ đồng nhất cho tất cả các ngành”, Trưởng phòng, Phòng Đào tạo, Trường Cao đẳng Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh chia sẻ.

Đề xuất phân hóa tiêu chuẩn diện tích đất tối thiểu/người học theo nhóm ngành đào tạo

Một điểm mới khác của dự thảo là đề xuất mức diện tích đất tối thiểu của cơ sở giáo dục nghề nghiệp tính trên người học. Điểm d, Khoản 1, Điều 1 dự thảo quy định "Cơ sở giáo dục nghề nghiệp có diện tích đất sử dụng hợp pháp, đáp ứng quy định của pháp luật; có diện tích đất tối thiểu 12,0 m2 trên một người học theo quy mô đào tạo cao nhất dự kiến trong chiến lược, kế hoạch phát triển nhà trường".

Đánh giá về quy định này, Thạc sĩ Hồ Nguyễn Cúc Phương cho rằng, mức diện tích đất tối thiểu 12m2/người học được quy định trong dự thảo là chưa thực sự phù hợp với đặc thù của các cơ sở giáo dục nghề nghiệp. Nếu chỉ nhìn vào quy mô diện tích đất thì có thể cho rằng giáo dục nghề nghiệp có yêu cầu thấp hơn giáo dục đại học, nhưng thực tế đào tạo nghề lại đòi hỏi nhiều không gian dành cho thực hành.

Trong khi giáo dục đại học quy định tối thiểu 25m2 đất/người học, thì giáo dục nghề nghiệp chỉ được xác định mức 12m2/người học, chưa bằng một nửa - dù phải bố trí xưởng thực hành, phòng thực tập, phòng học chuyên môn, khu vực máy móc, thiết bị và không gian bảo đảm an toàn lao động.

z6822698497437-efc35220106568cf210188cd980aff5c.jpg
Thạc sĩ Hồ Nguyễn Cúc Phương - Trưởng phòng, Phòng Đào tạo, Trường Cao đẳng Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh. Ảnh: NVCC

“Với các ngành kỹ thuật, công nghệ, diện tích dành cho một người học không chỉ là chỗ ngồi trong lớp mà còn phải tính đến không gian thao tác và vận hành thiết bị. Những ngành như Công nghệ ô tô, Cơ khí chế tạo, Điện tử công nghiệp, Hàn... cần mặt bằng lớn để bố trí máy móc, xưởng thực hành, đồng thời phải có khoảng cách an toàn, lối di chuyển, khu vực tập kết vật tư và sản phẩm.

Vì vậy, nếu áp dụng mức tối thiểu 12m2/người học cho toàn bộ các nhóm ngành, các trường có thể gặp khó khăn trong tổ chức đào tạo thực hành, nhất là những ngành sử dụng máy móc, thiết bị có kích thước lớn”, Trưởng phòng, Phòng Đào tạo, Trường Cao đẳng Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh cho hay.

Từ đó, Thạc sĩ Hồ Nguyễn Cúc Phương cho rằng cần phân hóa tiêu chuẩn diện tích đất/người học theo nhóm ngành đào tạo, thay vì quy định một mức chung. Đối với các ngành kỹ thuật, công nghệ, nông - lâm - ngư nghiệp, có thể xác định mức diện tích cao hơn do yêu cầu về xưởng và thực hành; trong khi nhóm ngành kinh tế, dịch vụ, công nghệ thông tin, ngoại ngữ có thể sử dụng không gian theo chiều cao để tối ưu quỹ đất.

Một giải pháp khác được Trưởng phòng, Phòng Đào tạo, Trường Cao đẳng Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh đề xuất là tính đến cơ sở thực hành tại doanh nghiệp liên kết.

“Trong đào tạo nghề, doanh nghiệp là một phần quan trọng của quá trình hình thành kỹ năng nghề cho người học. Nếu doanh nghiệp có đủ máy móc, dây chuyền và điều kiện an toàn để tiếp nhận sinh viên thực hành, thực tập, dự thảo có thể cho phép nhà trường được ghi nhận một phần năng lực cơ sở vật chất này.

Chẳng hạn, có thể nghiên cứu cơ chế quy đổi tối đa khoảng 20-30% diện tích xưởng thực hành của doanh nghiệp đủ điều kiện vào yêu cầu cơ sở vật chất của nhà trường. Điều này vừa phù hợp với đặc thù đào tạo gắn với sản xuất, vừa giúp các trường giảm áp lực phải tự đầu tư toàn bộ diện tích xưởng, máy móc nhưng vẫn bảo đảm người học có đủ không gian và điều kiện để thực hành”, cô Phương nhận định.

Còn theo Tiến sĩ Vũ Quang Khuê, không nên lấy diện tích đất làm tiêu chí để xác định một cơ sở giáo dục nghề nghiệp có đạt chuẩn hay không. Thay vào đó, cần đánh giá dựa trên hệ thống cơ sở vật chất thực tế phục vụ đào tạo.

“Không nên quy định diện tích đất, mà nên quy định cơ sở vật chất bao nhiêu trên tỷ lệ quy mô, tính theo diện tích cơ sở vật chất xây dựng trên đầu người. Tiêu chí quan trọng cần hướng tới là khả năng bảo đảm không gian học tập, môi trường đào tạo, khả năng vận hành máy móc, cũng như các yêu cầu về an toàn, năng suất, chất lượng và quy trình quản lý xưởng.

Cách tiếp cận này sẽ phản ánh thực chất hơn năng lực đáp ứng đào tạo của một cơ sở giáo dục nghề nghiệp, thay vì chỉ căn cứ vào diện tích đất mà trường đang sở hữu.

Bên cạnh đó, khi tính tổng diện tích sàn sử dụng phục vụ đào tạo trên đầu người học, cần tính đến đặc thù về quy mô và thời gian đào tạo. Đặc biệt, mô hình 9+ hiện nay khiến cách tính này càng cần được xem xét kỹ”, Hiệu trưởng Trường Cao đẳng Công nghiệp Bắc Ninh nêu quan điểm.

Tiến sĩ Vũ Quang Khuê phân tích thêm, học sinh theo mô hình 9+ có thể ở trường tới 3 năm, nhưng hơn một nửa thời gian dành cho việc học văn hóa trung học phổ thông. Trong khi đó, thời gian đào tạo nghề thực tế đối với trình độ trung cấp chỉ khoảng 18 tháng đến 2 năm.

Do đó, nếu chỉ căn cứ vào quy mô tuyển sinh để xác định yêu cầu về diện tích cơ sở vật chất thì chưa phản ánh chính xác mức độ khai thác thực tế. Cần phân biệt rõ giữa quy mô tuyển sinh và quy mô đào tạo.

825278467-3737623896391247-1117098144048387658-n.jpg
Giảng viên hướng dẫn sinh viên Trường Cao đẳng Công nghiệp Bắc Ninh thực hành. Ảnh: website nhà trường

Cùng với yêu cầu về diện tích đất, Điểm d, Khoản 1, Điều 1 dự thảo cũng quy định cơ sở giáo dục nghề nghiệp "có phòng học lý thuyết, phòng học thực hành, thực tập, bảo đảm tổng diện tích sàn sử dụng phục vụ đào tạo tối thiểu 3,5 m2 trên một người học quy đổi và đáp ứng yêu cầu của chương trình đào tạo, quy mô và cơ cấu ngành, nghề đào tạo; bảo đảm các quy định an toàn lao động, phòng cháy chữa cháy, bảo hộ theo quy định".

Đáng chú ý, việc xác định diện tích phục vụ đào tạo được đề xuất theo hướng chuyển từ cách tính theo “chỗ học” sang tính theo “người học”.

Về yêu cầu này, Tiến sĩ Phùng Quý Sơn cho rằng việc chuyển từ cách tính theo “chỗ học” sang “người học” là phù hợp, bởi cách tính này phản ánh sát hơn quy mô đào tạo cũng như mức độ khai thác, sử dụng cơ sở vật chất thực tế của nhà trường.

Tuy nhiên, theo Phó Hiệu trưởng phụ trách Trường Cao đẳng Lạng Sơn, do đặc thù mỗi ngành, nghề có yêu cầu khác nhau về xưởng thực hành, phòng thực tập và thiết bị đào tạo, bên cạnh mức sàn chung 3,5 m2/người học quy đổi, cơ quan quản lý có thể nghiên cứu phân nhóm ngành, nghề hoặc áp dụng hệ số phù hợp với mức độ thực hành.

Điều này sẽ tạo thêm sự linh hoạt cho các cơ sở giáo dục nghề nghiệp trong bố trí, đầu tư cơ sở vật chất, đồng thời bảo đảm điều kiện đào tạo phù hợp với đặc thù từng ngành, nghề và yêu cầu về chất lượng đầu ra.

“Từ thực tế của nhà trường, tôi đề nghị dự thảo làm rõ diện tích đất được tính trên tổng diện tích đất sử dụng hợp pháp của tất cả các cơ sở thuộc cùng một trường, hay chỉ tính tại cơ sở chính.

Theo tôi, nên cho phép tính tổng quỹ đất hợp pháp của các cơ sở nếu các cơ sở đó được sử dụng ổn định cho hoạt động đào tạo và đáp ứng các yêu cầu về cơ sở vật chất, an toàn, phòng cháy chữa cháy và điều kiện đào tạo tương ứng.

Đồng thời, đối với những trường chưa đủ quỹ đất theo quy mô cao nhất dự kiến, nên có lộ trình đáp ứng gắn với tiến độ thực hiện chiến lược, kế hoạch phát triển. Cách quy định này vừa bảo đảm yêu cầu chuẩn về cơ sở vật chất, vừa phù hợp với thực tế tổ chức đào tạo đa cơ sở và khả năng đầu tư của các trường”, Phó Hiệu trưởng phụ trách Trường Cao đẳng Lạng Sơn đề xuất.

Đình Nam