Theo Thông báo số 68-TB/VPTW ngày 26/5/2026 của Văn phòng Ban Chấp hành Trung ương về Kết luận của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại buổi làm việc với Đảng ủy Bộ Y tế, y học cổ truyền được xác định là một lĩnh vực có vị trí quan trọng trong chiến lược phát triển đất nước.
Kết luận nêu rõ, y học cổ truyền gắn với nhiệm vụ bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân, đồng thời có mối liên hệ trực tiếp với việc gìn giữ bản sắc văn hóa dân tộc. Bên cạnh đó, lĩnh vực này còn mở ra dư địa lớn cho phát triển công nghiệp dược liệu, thúc đẩy kinh tế sức khỏe và góp phần gia tăng sức mạnh mềm quốc gia trong bối cảnh hội nhập.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nhấn mạnh yêu cầu bảo tồn, phát huy và nâng tầm y học cổ truyền dân tộc trong giai đoạn mới. Những giá trị và di sản quý báu được tích lũy qua nhiều thế hệ cần được chuyển hóa thành nguồn lực thiết thực, phục vụ hiệu quả công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân, đồng thời đóng góp vào mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Trước đó, tại buổi làm việc với Đảng ủy Bộ Y tế, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh đến yêu cầu đưa y học cổ truyền thực sự về với cộng đồng.
Theo các chuyên gia, với sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, cùng nỗ lực của đội ngũ thầy thuốc và các tổ chức nghề nghiệp, y học cổ truyền Việt Nam sẽ tiếp tục phát triển mạnh mẽ, đóng góp tích cực vào sự nghiệp chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân, hướng tới một nền y học hiện đại, nhân văn và bền vững.
Y học cổ truyền là bộ phận không tách rời trong hệ thống y tế Việt Nam
Trao đổi với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, Thầy thuốc Nhân dân, Giáo sư, Tiến sĩ Trương Việt Bình - Chủ tịch Hội Nam y Việt Nam, Phó Chủ tịch Hiệp hội Đào tạo Trung y Thế giới, nguyên Giám đốc Học viện Y - Dược học cổ truyền Việt Nam chia sẻ, nhiều quốc gia trên thế giới như Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản đã ban hành luật riêng để bảo vệ và phát triển nền y học cổ truyền của họ. Còn tại Việt Nam, y học cổ truyền là một bộ phận quan trọng của nền văn hóa và khoa học dân tộc, với triết lý lấy con người làm trung tâm và đề cao sự hài hòa giữa con người với tự nhiên.
“Đảng và Nhà nước đã xác định rõ chủ trương kế thừa, phát huy và phát triển y học cổ truyền, đồng thời kết hợp chặt chẽ với y học hiện đại trong hệ thống y tế quốc gia. Đây là định hướng có ý nghĩa khoa học, văn hóa và chiến lược đối với sự phát triển của nền y học nước nhà. Trong kỷ nguyên mới, y học cổ truyền Việt Nam sẽ tiếp tục khẳng định vai trò quan trọng, góp phần phát triển bền vững nền y học dân tộc”, thầy Bình bày tỏ.
Cùng chia sẻ, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Quốc Huy, Giám đốc Học viện Y – Dược học cổ truyền Việt Nam cho rằng, trên bản đồ toàn cầu, y học cổ truyền Việt Nam đang ở trạng thái “tiềm năng cực lớn nhưng vị thế chưa tương xứng”. Tự hào là thuộc nhóm tiên phong ở Đông Nam Á, nhưng trên bình diện thế giới, chúng ta mới ở mức trung bình, mạnh về tài nguyên và thực tiễn lâm sàng, nhưng vẫn còn khoảng cách lớn với các nước dẫn đầu.
Vị thế của y học cổ truyền Việt Nam được phản ánh qua nhiều chỉ dấu cụ thể. Đây là lĩnh vực có nền tảng văn hóa sâu dày, gắn bó với đời sống người dân qua hàng nghìn năm lịch sử, cùng nguồn tài nguyên sinh học phong phú với hơn 5.000 loài cây thuốc. Tuy nhiên, nghiên cứu lâm sàng còn khiêm tốn, việc chuẩn hóa dược liệu thiếu đồng bộ; tỷ trọng thuốc dược liệu, thuốc cổ truyền trong tổng số thuốc được cấp số đăng ký và trong danh mục bảo hiểm y tế vẫn ở mức thấp.
Đáng chú ý, dù xuất khẩu dược liệu của Việt Nam đứng trong nhóm đầu Đông Nam Á, hoạt động này vẫn chủ yếu ở dạng nguyên liệu thô, giá trị gia tăng chưa cao, cho thấy dư địa lớn nhưng cũng đặt ra yêu cầu cấp thiết về nâng cấp chuỗi giá trị và phát triển công nghiệp dược liệu.
“Khoảng cách lớn nhất cần thu hẹp chính là khoảng cách giữa khoa học hiện đại, chuẩn hóa theo những tiêu chuẩn quốc tế được công nhận. Đây cũng là tinh thần chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại buổi làm việc ngày 20/5/2026 với Đảng ủy Bộ Y tế và các cơ quan liên quan, khi nhấn mạnh phát triển y học cổ truyền trên nền tảng khoa học hiện đại để kiến tạo thương hiệu quốc gia. Khi đẩy mạnh nghiên cứu thực chứng và chuẩn hóa toàn diện chuỗi cung ứng thì y học cổ truyền Việt Nam sẽ hoàn toàn có thể vươn lên xác lập vị thế tiên phong trong khu vực và có chỗ đứng vững chắc trên bản đồ quốc tế trong vòng 10-15 năm tới”, thầy Huy chia sẻ.
Khẳng định vai trò và giá trị của y học cổ truyền trong hệ thống y tế Việt Nam, chuyên gia cho rằng lĩnh vực này hội tụ nhiều giá trị nổi bật trên cả phương diện lịch sử, khoa học và phát triển kinh tế - xã hội.
Cụ thể, theo thầy Bình, y học cổ truyền mang đậm dấu ấn lịch sử và văn hóa dân tộc, là kết tinh của quá trình tích lũy tri thức qua nhiều thế hệ, gắn bó mật thiết với đời sống nhân dân. Y học cổ truyền đã khẳng định hiệu quả qua nhiều phương pháp điều trị, đặc biệt trong giảm đau, điều trị bệnh mạn tính, phục hồi chức năng, nâng cao thể trạng và tăng cường sức đề kháng. Bên cạnh đó, Việt Nam sở hữu nguồn tài nguyên dược liệu phong phú, với điều kiện tự nhiên thuận lợi cho hàng nghìn loài cây thuốc phát triển. Đây là nền tảng quan trọng để phát triển công nghiệp dược liệu, các sản phẩm chăm sóc sức khỏe và du lịch y học.
“Y học cổ truyền có nhiều tiềm năng trong chăm sóc sức khỏe cộng đồng, thông qua các biện pháp can thiệp sớm tại cơ sở, góp phần nâng cao sức khỏe dân số, cải thiện chất lượng giống nòi và giảm chi phí y tế.
Đáng chú ý, xu hướng y học tích hợp đang phát triển mạnh trên thế giới, kết hợp giữa y học hiện đại, y học cổ truyền và các phương pháp chăm sóc sức khỏe tự nhiên; là hướng đi phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả điều trị, hạn chế tác dụng không mong muốn của thuốc và cải thiện chất lượng cuộc sống cho người bệnh”, thầy Bình cho biết.
Mặt khác, thầy Huy cho rằng, trong hệ thống y tế Việt Nam, y học cổ truyền là một phương pháp điều trị, bộ phận hữu cơ, không thể tách rời, không đối lập với y học hiện đại. Trước hết, về mặt di sản, triết lý “Nam dược trị Nam nhân” của Đại danh y Tuệ Tĩnh vừa là niềm tự hào dân tộc, vừa cho thấy sự thích ứng tuyệt vời với cơ địa người Việt và đặc điểm vị trí địa lý của Việt Nam. Còn trong thực tiễn, y học cổ truyền chứng minh thế mạnh trong chăm sóc sức khỏe toàn diện, đặc biệt qua các phương pháp dưỡng sinh, châm cứu, xoa bóp, dùng thuốc cổ truyền giúp xử lý hiệu quả bệnh mạn tính, hỗ trợ bệnh nhân ung thư giảm tác dụng phụ khi hóa - xạ trị.
“Vai trò của y học cổ truyền ngày càng quan trọng trong hệ thống y tế Việt Nam qua mô hình kết hợp y học cổ truyền kết hợp y học hiện đại, từ cấp chuyên sâu cho đến cấp ban đầu. Riêng năm 2025, mạng lưới này đã phục vụ khoảng 7 triệu lượt khám chữa bệnh, với hàng nghìn tỷ đồng được Quỹ Bảo hiểm y tế chi trả, góp phần giảm tải cho tuyến trên và tối ưu chi phí cho người dân. Ở góc độ vĩ mô, phát triển y học cổ truyền gắn với vùng trồng dược liệu còn tạo sinh kế bền vững cho đồng bào dân tộc thiểu số và mở ra tiềm năng lớn cho du lịch chữa lành”, thầy Huy chia sẻ.
Bên cạnh những tiềm năng, y học cổ truyền Việt Nam vẫn còn đối mặt với một số khó khăn. Cụ thể, thầy Huy cho rằng, “điểm nghẽn” lớn nhất là tư duy khai thác thô. Khả năng gia tăng doanh thu khiêm tốn, vì ngành chủ yếu vẫn bán dược liệu dưới dạng nguyên liệu thô, chưa thực sự đầu tư cho nghiên cứu, phát triển đủ lớn các sản phẩm tầm cỡ quốc gia. Nguyên nhân bắt nguồn từ một chuỗi cung ứng đứt gãy, khâu trồng trọt còn manh mún, phụ thuộc thời tiết, khó đạt chuẩn quốc tế như GACP-WHO; khâu chế biến sâu yếu, thiếu đầu tư vào công nghệ và khu công nghiệp chuyên biệt; và khâu nghiên cứu lâm sàng, chuẩn hóa hoạt chất còn chậm, khiến sản phẩm thiếu minh chứng khoa học xác thực để cạnh tranh quốc tế.
Do vậy, cần phá vỡ được tư duy khai thác thô để xây dựng một chuỗi giá trị bền vững, khoa học và hội nhập, thật sự biến y học cổ truyền Việt Nam từ “kho vàng dược liệu” trở thành trụ cột của kinh tế sức khỏe, tạo sinh kế bền vững cho hàng triệu người dân, đặc biệt là đồng bào dân tộc thiểu số.
Bên cạnh đó, một số rào cản về cơ chế như thủ tục hành chính phức tạp, đấu thầu và thanh toán BHYT chưa thuận lợi, cùng khoảng trống trong bảo hộ sở hữu trí tuệ khiến tri thức dân gian có nguy cơ mai một hoặc bị khai thác trái phép. Sự liên kết “4 nhà” (Nhà nước – Nhà khoa học – Nhà nông – Nhà doanh nghiệp) vẫn lỏng lẻo, trong khi đội ngũ chuyên gia am hiểu cả dược liệu cổ truyền lẫn công nghệ hiện đại còn thiếu hụt.
Còn theo thầy Bình, đối với y học cổ truyền, hiện nghiên cứu khoa học chưa theo kịp yêu cầu phát triển, nhiều bài thuốc và phương pháp điều trị chưa được kiểm chứng đầy đủ theo tiêu chuẩn y học hiện đại do khác biệt trong cách tiếp cận, trong khi nguồn lực và kinh phí còn hạn chế. Chuỗi giá trị dược liệu cũng chưa hoàn chỉnh, từ khâu nuôi trồng, khai thác đến chế biến, sản xuất còn thiếu tính đồng bộ; tình trạng khai thác tự nhiên thiếu kiểm soát tiềm ẩn nguy cơ suy giảm nguồn tài nguyên.
Công nghiệp dược liệu và sản xuất thuốc cổ truyền phát triển chậm, nhiều sản phẩm chưa đáp ứng tiêu chuẩn hiện hành, ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận của người bệnh đối với các bài thuốc có giá trị. Ngoài ra, tri thức y học dân gian đứng trước nguy cơ mai một, trong khi nguồn nhân lực y dược cổ truyền còn thiếu, phân bố chưa hợp lý, đặc biệt ở vùng khó khăn; công tác đào tạo nhân lực chất lượng cao cần được chú trọng hơn trong thời gian tới.
Cần hoàn thiện cơ chế, chính sách, lấy người dân làm trung tâm
Nhấn mạnh yêu cầu “đưa y học cổ truyền thực sự về với cộng đồng”, các chuyên gia khẳng định, đây là định hướng chiến lược sâu sắc, đúng nhịp với xu thế y tế toàn cầu, chuyển từ thụ động chữa bệnh sang chủ động chăm sóc sức khỏe toàn diện.
Giáo sư, Tiến sĩ Trương Việt Bình cho rằng, cần triển khai đồng bộ nhiều giải pháp. Trọng tâm là hoàn thiện cơ chế, chính sách, xác định y dược cổ truyền là một hệ thống chữa bệnh độc lập với triết lý riêng, từ đó xây dựng Luật Y dược cổ truyền và chiến lược phát triển dài hạn đến năm 2045, hướng tới hiện đại hóa và hội nhập quốc tế.
Đồng thời, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, đổi mới đào tạo theo hướng kết hợp giữa lý luận cổ truyền và khoa học hiện đại, hình thành đội ngũ chuyên gia ở các lĩnh vực chuyên sâu, đồng thời thúc đẩy mô hình y học tích hợp; đẩy mạnh nghiên cứu, ứng dụng công nghệ hiện đại như công nghệ sinh học, trí tuệ nhân tạo trong chuẩn hóa và kiểm chứng các bài thuốc, tăng đầu tư cho các chương trình nghiên cứu trọng điểm.
Ngoài ra, việc hiện đại hóa y học cổ truyền cần gắn với chuẩn hóa dược liệu, phát triển sản phẩm theo hướng hiệu quả, an toàn, đồng thời tôn trọng và phát huy tri thức dân gian; từng bước xây dựng hệ thống tiêu chuẩn và dược điển riêng.
Còn đối với lĩnh vực dược liệu, theo thầy Bình, cần quy hoạch vùng trồng, phát triển công nghiệp chế biến và hình thành chuỗi giá trị đồng bộ, hướng tới phát triển bền vững.
Cuối cùng, cần tăng cường hợp tác quốc tế, mở rộng trao đổi học thuật, chuyển giao công nghệ và quảng bá sản phẩm, qua đó từng bước đưa y học cổ truyền Việt Nam tham gia sâu hơn vào hệ thống y học thế giới.
Đồng tình với những chia sẻ trên, theo thầy Huy, trước hết phải phủ sóng mạng lưới y học cổ truyền tại y tế cấp ban đầu, đặt mục tiêu 100% trạm y tế xã có bộ phận y học cổ truyền đủ năng lực triển khai trị liệu không dùng thuốc, đồng thời mở rộng danh mục thanh toán bảo hiểm y tế cho các dịch vụ này.
Đồng thời, yếu tố quyết định vẫn là nhân lực. Do vậy, cần có cơ chế để đào tạo, sử dụng và đãi ngộ đặc biệt thầy thuốc tinh thông cả Đông – Tây y, và nhân rộng các mô hình cộng đồng như câu lạc bộ dưỡng sinh, lớp khí công hay vườn thuốc nam mẫu.
Ngoài ra, để cộng đồng tin và dùng y học cổ truyền, phải chuẩn hóa và số hóa hoàn thiện cơ sở dữ liệu quốc gia, chuẩn hóa phác đồ điều trị cho bệnh phổ biến, phát triển vùng trồng dược liệu gắn với sinh kế bền vững cho đồng bào vùng sâu, vùng xa. Bên cạnh đó, cần siết chặt quản lý, xử lý nghiêm vấn nạn “thần y rởm” và quảng cáo sai sự thật để bảo vệ uy tín ngành.
“Đưa y học cổ truyền về với cộng đồng là một chiến lược dài hơi, lấy người dân làm trung tâm, nhất là với mô hình chính quyền 2 cấp hiện nay. Khi cả hệ thống chính trị cùng vào cuộc quyết liệt, chúng ta sẽ xây dựng thành công một nền y học mang đậm bản sắc dân tộc, khoa học và đại chúng, bảo vệ vững chắc sức khỏe cho mọi tầng lớp nhân dân”, thầy Huy bày tỏ.
Chia sẻ thêm, thầy Huy cũng có những trăn trở khi tiếp cận từ góc nhìn của cơ sở đào tạo. Đó là hiện nay đang thiếu hụt nhân lực y học cổ truyền cấp ban đầu, nhiều trạm y tế xã không có bác sĩ y học cổ truyền vững chuyên môn; chương trình đào tạo có phần chưa theo kịp nhu cầu từ thực tiễn nặng lý thuyết nhưng thiếu thực hành lâm sàng và kỹ năng chuyển đổi số; cần tăng cường kết nối giữa giảng đường và thực tiễn lâm sàng, khiến sinh viên thiếu kỹ năng gần dân, chăm sóc sức khỏe cộng đồng.
Để giải quyết triệt để, cần đổi mới chương trình đào tạo theo mô hình tích hợp y học cổ truyền kết hợp y học hiện đại và tổ chức và giảng dạy chương trình dựa trên năng lực cần thiết của vị trí việc làm của hệ thống y tế; đưa y học cổ truyền thành học phần bắt buộc, đưa sinh viên tiếp cận thực tiễn lâm sàng sớm hơn nhất là tuyến tỉnh, tuyến xã; nâng chuẩn đầu vào và chuẩn hóa giảng viên, mở rộng hợp tác quốc tế để xây dựng đội ngũ chuyên gia tinh thông kết hợp nhuần nhuyễn y học cổ truyền với y học hiện đại; thiết lập bệ phóng chính sách với học bổng, ưu đãi tuyển dụng, chế độ lương đặc thù, cùng hệ thống đánh giá chuẩn hoá năng lực quốc gia cho bác sĩ y học cổ truyền.