Dự kiến danh mục ngành đào tạo nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm và khó tuyển nhưng xã hội có nhu cầu

26/10/2026 06:20
Đào Hiền
Theo dõi trên Google News
0:00 / 0:00
0:00

GDVN - Theo dự thảo Thông tư, ngành, nghề khó tuyển sinh phải có tỷ lệ tuyển sinh bình quân dưới 70% chỉ tiêu trong 3 năm liên tiếp, đồng thời chứng minh nhu cầu nhân lực và khả năng có việc làm phù hợp sau tốt nghiệp.

Bộ Giáo dục và Đào tạo vừa công bố dự thảo Thông tư quy định danh mục ngành, nghề đào tạo nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm và danh mục ngành, nghề đào tạo khó tuyển sinh nhưng xã hội có nhu cầu để lấy ý kiến.

Dự thảo áp dụng đối với các cơ sở hoạt động giáo dục nghề nghiệp và tổ chức, cá nhân có liên quan.

Theo đó, danh mục ngành, nghề đào tạo nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm được áp dụng ở các trình độ cao đẳng, trung cấp, trung học nghề và sơ cấp.

Danh mục ngành, nghề đào tạo khó tuyển sinh nhưng xã hội có nhu cầu áp dụng đối với trình độ cao đẳng và trung cấp.

Định kỳ rà soát, cập nhật danh mục ngành, nghề đào tạo

Đáng chú ý, dự thảo Thông tư quy định danh mục ngành, nghề đào tạo nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm và danh mục ngành, nghề đào tạo khó tuyển sinh nhưng xã hội có nhu cầu phải được chỉnh sửa, bổ sung định kỳ ít nhất một lần trong 5 năm.

Cục Giáo dục nghề nghiệp và Giáo dục thường xuyên có trách nhiệm chủ trì, phối hợp với các cơ quan, đơn vị liên quan xây dựng kế hoạch, tổ chức đánh giá việc thực hiện các danh mục. Trên cơ sở kết quả đánh giá, Cục trình Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo xem xét chỉnh sửa, bổ sung ngành, nghề theo quy định.

Đối với các cơ sở hoạt động giáo dục nghề nghiệp, dự thảo yêu cầu hằng năm tổ chức đánh giá việc thực hiện các ngành, nghề đang đào tạo tại đơn vị. Căn cứ kết quả đánh giá và các tiêu chí quy định, cơ sở có thể báo cáo, đề xuất cơ quan nhà nước có thẩm quyền và Bộ Giáo dục và Đào tạo (qua Cục Giáo dục nghề nghiệp và Giáo dục thường xuyên) bổ sung ngành, nghề vào danh mục hoặc đưa ngành, nghề ra khỏi danh mục.

Quy định này đặt ra yêu cầu rà soát danh mục ngành, nghề đào tạo định kỳ, đồng thời tạo cơ sở để cập nhật những ngành, nghề phù hợp với nhu cầu xã hội và thực tiễn tuyển sinh.

img-5519.jpg
Ảnh minh hoạ: Bộ Giáo dục và Đào tạo

Xác định cụ thể tiêu chí ngành, nghề đào tạo nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm

Theo dự thảo Thông tư, ngành, nghề đào tạo nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm phải đáp ứng đồng thời hai tiêu chí.

Thứ nhất, thuộc danh mục ngành, nghề đào tạo trong giáo dục nghề nghiệp do cơ quan có thẩm quyền ban hành.

Thứ hai, tổng thời gian người học trực tiếp thực hành các công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm trở lên chiếm từ 50% tổng thời gian thực hành của chương trình đào tạo; hoặc thời gian thực hành các công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm chiếm từ 30% trở lên.

Trường hợp chưa đạt các tỷ lệ trên nhưng quá trình thực hành có yếu tố nguy hiểm, độc hại ở mức cao, tiềm ẩn nguy cơ ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe và an toàn của người học, ngành, nghề vẫn có thể được xem xét trên cơ sở đánh giá mức độ rủi ro và đặc thù.

Đối với ngành, nghề đặc thù thuộc lĩnh vực quốc phòng, an ninh, việc xác định còn căn cứ vào tính chất nhiệm vụ, điều kiện và môi trường đào tạo, yêu cầu thực hành cùng các quy định liên quan.

Dự thảo Thông tư quy định ngành, nghề đào tạo khó tuyển sinh nhưng xã hội có nhu cầu phải đáp ứng đồng thời bốn tiêu chí bắt buộc và thuộc ít nhất một trong hai nhóm đặc thù được quy định.

Cụ thể, ngành, nghề phải thuộc danh mục đào tạo trong giáo dục nghề nghiệp do cơ quan có thẩm quyền ban hành; có tình trạng tuyển sinh không đạt yêu cầu trong ba năm liên tiếp, với tỷ lệ tuyển sinh bình quân dưới 70% chỉ tiêu; có nhu cầu sử dụng nhân lực hiện tại hoặc trong tương lai được xác định thông qua dữ liệu tuyển dụng, dự báo nhân lực, nhu cầu của doanh nghiệp, bộ, ngành, địa phương và các chiến lược, quy hoạch phát triển

Đồng thời có tỷ lệ người tốt nghiệp làm việc phù hợp với ngành, nghề đào tạo ở mức cao so với bình quân chung của giáo dục nghề nghiệp và có bằng chứng về nhu cầu tuyển dụng tiếp tục của thị trường lao động.

Bên cạnh các tiêu chí bắt buộc, ngành, nghề phải thuộc ít nhất một trong hai nhóm. Nhóm thứ nhất gồm các ngành, nghề có tính chất công việc, điều kiện lao động, yêu cầu năng lực, năng khiếu hoặc địa bàn làm việc đặc thù khiến việc thu hút người học gặp khó khăn.

Nhóm này có thể bao gồm nghề nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm; nghề tại vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo; các lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp, khai khoáng, kinh tế biển hoặc những nghề gắn với bảo tồn giá trị văn hóa, nghệ thuật.

Nhóm thứ hai gồm các ngành, nghề có vai trò thiết yếu đối với phát triển kinh tế chiến lược, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, chuyển đổi xanh, chuyển đổi số, phát triển vùng khó khăn, bảo đảm dịch vụ thiết yếu, quốc phòng và an ninh.

Đáng chú ý, đối với ngành, nghề mới hoặc phục vụ lĩnh vực kinh tế trọng điểm, công nghệ mới, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, kinh tế tuần hoàn, tăng trưởng xanh và các nhiệm vụ chiến lược quốc gia, quốc phòng, an ninh, Nhà nước có thể xem xét đưa vào danh mục ngay cả khi chưa có đủ dữ liệu tuyển sinh trong ba năm.

Việc xem xét trong trường hợp này căn cứ vào dự báo nhu cầu nhân lực và nhu cầu tuyển dụng của xã hội.

Chi tiết dự thảo Thông tư: TẠI ĐÂY

Đào Hiền