Thông tư 84/2026/TT-BGDĐT ban hành Quy chế Cuộc thi nghiên cứu khoa học, kỹ thuật cấp quốc gia dành cho học sinh trung học cơ sở và trung học phổ thông có hiệu lực kể từ ngày 30/9/2026, thay thế Thông tư 06/2024/TT-BGDĐT và Thông tư 24/2025/TT-BGDĐT.
Với giáo viên trực tiếp hướng dẫn học sinh nghiên cứu khoa học, những quy định mới không chỉ liên quan đến hồ sơ dự thi mà còn đặt ra yêu cầu phải thay đổi cách tổ chức, theo dõi và đánh giá quá trình nghiên cứu.
Nhật ký nghiên cứu phải phản ánh đúng quá trình thực hiện.
Điểm giáo viên cần lưu ý trước tiên là quy định tại Điều 14 về nhật ký nghiên cứu, dữ liệu gốc và minh chứng quá trình thực hiện dự án.
Học sinh phải lập, lưu giữ nhật ký nghiên cứu bằng hình thức điện tử hoặc văn bản. Nhật ký cần ghi đầy đủ, liên tục thời gian, nội dung công việc, phương pháp thực hiện, kết quả từng giai đoạn và vai trò cụ thể của từng thành viên nếu là dự án tập thể. Giáo viên hướng dẫn có trách nhiệm xác nhận định kỳ, ít nhất mỗi tháng một lần.
Nhật ký nghiên cứu và dữ liệu gốc là căn cứ để phân biệt mức độ tham gia thực chất của học sinh với phần hỗ trợ của giáo viên, nhà khoa học. Đây cũng là những tài liệu phải xuất trình khi được yêu cầu xác minh.
Quy định này đòi hỏi giáo viên không thể hướng dẫn theo cách đến gần thời hạn nộp hồ sơ mới yêu cầu học sinh hoàn thiện nhật ký, bổ sung hình ảnh hoặc dựng lại các bước thực hiện. Hồ sơ được hoàn thiện sau khi dự án kết thúc không thể thay thế hoàn toàn những minh chứng ghi nhận trong quá trình nghiên cứu.
Giáo viên phải hướng dẫn, không làm thay học sinh
Điều 16 của Quy chế quy định rõ trách nhiệm của người hướng dẫn về liêm chính khoa học và đạo đức nghề nghiệp. Giáo viên phải hướng dẫn, giám sát để bảo đảm học sinh tham gia thực chất, độc lập trong toàn bộ quá trình thực hiện dự án, không trực tiếp làm thay những nội dung nghiên cứu cốt lõi.
Đối với dự án khoa học, các nội dung cốt lõi bao gồm thiết kế nghiên cứu, thu thập và xử lý dữ liệu gốc, phân tích, giải thích kết quả và kết luận nghiên cứu. Với dự án kỹ thuật, đó là việc chế tạo, kiểm tra nguyên mẫu hoặc mô hình.
Giáo viên vẫn có thể hỗ trợ học sinh về phương pháp, kỹ thuật, thiết bị, công cụ, điều kiện và an toàn nghiên cứu. Vấn đề nằm ở ranh giới giữa hướng dẫn để học sinh tự làm với việc làm thay rồi để học sinh đứng tên.
Đáng chú ý, khoản 3 Điều 16 còn quy định người hướng dẫn chịu trách nhiệm khi để xảy ra vi phạm liêm chính khoa học của dự án do mình hướng dẫn.
Sử dụng AI phải đúng quy định và khai báo trung thực
Điều 15 của Quy chế phân loại việc sử dụng công cụ số và trí tuệ nhân tạo thành ba nhóm. Tra cứu thông tin, tài liệu tham khảo và kiểm tra chính tả, ngữ pháp được phép sử dụng mà không phải khai báo.
Việc hỗ trợ xử lý, phân tích dữ liệu, mô phỏng, lập trình, tạo hình ảnh, sơ đồ, biên soạn hoặc biên dịch nội dung báo cáo, poster và những trường hợp khác có ảnh hưởng đến nội dung, kết quả nghiên cứu hoặc sản phẩm trình bày phải được khai báo.
Quy chế nghiêm cấm sử dụng công nghệ số hoặc AI để giả mạo quá trình nghiên cứu, tạo lập hay làm sai lệch dữ liệu, sao chép kết quả của người khác, che giấu việc sử dụng AI hoặc tạo bằng chứng nghiên cứu không có thật. AI cũng không được dùng để thực hiện thay học sinh những nội dung nghiên cứu chính.
Người hướng dẫn có trách nhiệm hướng dẫn học sinh sử dụng công cụ số, AI đúng mục đích, an toàn, có trách nhiệm và xác nhận nội dung khai báo.
Chọn đề tài phải đi cùng yêu cầu an toàn và đạo đức nghiên cứu
Điều 4 phân loại dự án theo ba mức độ an toàn, gồm mức cấm tuyệt đối, mức phải phê duyệt rủi ro và mức an toàn để thực hiện.
Đối với dự án thuộc mức phải phê duyệt rủi ro, cơ sở giáo dục phải đánh giá sơ bộ mức độ an toàn trên cơ sở ý kiến bằng văn bản của ít nhất một người có chuyên môn phù hợp, không phải người hướng dẫn dự án. Việc đánh giá phải hoàn thành trước khi học sinh tiến hành thí nghiệm, can thiệp hoặc thu thập dữ liệu có yếu tố rủi ro.
Dự án thu thập dữ liệu hoặc mẫu vật từ con người phải có sự đồng ý bằng văn bản của người tham gia, hoặc cha mẹ, người giám hộ nếu người tham gia chưa thành niên. Những nghiên cứu có yếu tố nguy cơ liên quan đến hóa chất, vi sinh vật, bức xạ hoặc các nội dung chuyên môn khác còn phải đáp ứng những điều kiện tương ứng của pháp luật.
Quy định này đặc biệt cần thiết đối với đề tài liên quan đến sức khỏe, tâm lý, hành vi và các vấn đề nhạy cảm của học sinh. Giáo viên không nên chỉ quan tâm bảng hỏi có thu được nhiều dữ liệu hay không mà bỏ qua quyền riêng tư, sự tự nguyện và nguy cơ gây ảnh hưởng đến người tham gia.
Chú trọng năng lực nghiên cứu và trả lời phỏng vấn của học sinh
Theo Điều 20 và Điều 21 của Quy chế, mỗi dự án được ít nhất ba giám khảo chấm độc lập theo thang điểm 100. Việc đánh giá căn cứ vào báo cáo tóm tắt, poster, kế hoạch nghiên cứu, nhật ký, hồ sơ dự thi và phần trình bày, trả lời phỏng vấn trực tiếp của tác giả.
Như vậy, giáo viên cần chuẩn bị cho học sinh khả năng giải thích toàn bộ quá trình nghiên cứu. Các em phải trả lời được vì sao chọn đề tài, câu hỏi nghiên cứu là gì, dữ liệu được thu thập như thế nào, phương pháp phân tích có phù hợp không, kết quả có ý nghĩa gì và nghiên cứu còn hạn chế ở đâu.
Đối với dự án khảo sát, học sinh cần hiểu cách chọn mẫu, ý nghĩa các biến, cách tính tỷ lệ hoặc điểm trung bình và giới hạn của việc suy rộng kết quả. Đối với dự án kỹ thuật, các em cần giải thích được nguyên lý hoạt động, quy trình thử nghiệm và căn cứ đánh giá hiệu quả của sản phẩm.
Nhìn chung, Thông tư 84/2026/TT-BGDĐT đòi hỏi giáo viên hướng dẫn phải theo sát quá trình nghiên cứu, bảo đảm tính trung thực và an toàn, đồng thời giúp học sinh thực sự làm chủ dự án của mình thay vì chỉ chuẩn bị một sản phẩm để dự thi.
Tài liệu tham khảo:
https://luatvietnam.vn/giao-duc/thong-tu-84-2026-tt-bgddt-quy-che-cuoc-thi-nghien-cuu-khoa-hoc-ky-thuat-cap-quoc-gia-450306-d1.html
(*) Văn phong, nội dung bài viết thể hiện góc nhìn, quan điểm của tác giả.