Hỗ trợ học phí ngành nghề khó tuyển cần gắn với nhu cầu phát triển kinh tế của từng địa phương

17/09/2026 06:21
Tường San
Theo dõi trên Google News
0:00 / 0:00
0:00

GDVN -Theo lãnh đạo trường nghề, tình trạng khó tuyển sinh của nhiều ngành nghề có thể xuất phát từ nhiều nguyên nhân, như đặc điểm nghề nghiệp, cơ hội việc làm sau tốt nghiệp và trong đó có cả học phí.

Quy định về cơ chế hỗ trợ học phí người học các ngành, nghề đặc thù hoặc ngành, nghề cần thiết cho phát triển kinh tế - xã hội nhưng khó thu hút người học tại Nghị định 334/2026/NĐ-CP được nhiều lãnh đạo cơ sở giáo dục nghề nghiệp đánh giá là chính sách thiết thực, góp phần thu hút người học vào những lĩnh vực xã hội đang có nhu cầu. Tuy nhiên, để chính sách phát huy hiệu quả, cần có sự đồng hành của doanh nghiệp, cùng các quy định, chế tài phù hợp và việc xác định ngành, nghề ưu tiên trên cơ sở yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của từng địa phương.

Chia sẻ với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, Thạc sĩ Nguyễn Khánh Cường – Hiệu trưởng Trường Cao đẳng Công nghệ Quốc tế LILAMA2 cho hay, chính sách hỗ trợ học phí này sẽ tác động lớn đến một bộ phận người học.

Theo thầy Cường, đối với những người học ở vùng sâu, vùng xa, có hoàn cảnh khó khăn, khi biết những ngành, nghề này được miễn học phí, đồng thời phù hợp với đam mê của các em và là những ngành xã hội đang cần thì đây là một chính sách tốt. Dựa trên chính sách này, các cơ sở giáo dục nghề nghiệp sẽ đẩy mạnh công tác truyền thông để thu hút những người học phù hợp. Qua đó, chính sách cũng sẽ góp phần giúp các trường thu hút tuyển sinh đối với những ngành, nghề đặc thù, hỗ trợ phát triển nền kinh tế nhưng còn khó tuyển.

698190354-122195641532763890-2332045512425182333-n.jpg
Sinh viên nghề Điện tử công nghiệp Trường Cao đẳng Công nghệ Quốc tế LILAMA2 trong giờ học. Ảnh: Website nhà trường

Thầy Cường dẫn chứng, một số nghề trong đào tạo giáo dục nghề nghiệp hiện nay xã hội có nhu cầu nhưng khó tuyển người học như nghề lái tàu, nghề ống công nghệ, nghề Hàn. Đây đều là những nghề có thu nhập khá cao nhưng vẫn gặp khó khăn trong tuyển sinh.

Tuy nhiên, thầy Cường lưu ý rằng, việc thu hút người học và lựa chọn ngành học không chỉ phụ thuộc vào vấn đề học phí mà còn nằm ở đam mê, sở thích, định hướng của các em cũng như của gia đình. Bên cạnh đó, một yếu tố quan trọng là đầu ra của người học, bao gồm công việc, thu nhập và khả năng phát triển nghề nghiệp trong tương lai.

Thực tế hiện nay, đối với giáo dục đại học, những ngành học STEM, công nghệ chiến lược, đột phá... đã có danh mục các ngành thuộc lĩnh vực này và được hưởng chính sách hỗ trợ học phí. Trên thực tế, đây không phải những ngành, nghề khó tuyển, thậm chí có những ngành học còn đang tuyển sinh rất tốt, nhưng Nhà nước vẫn hỗ trợ để phục vụ cho việc phát triển kinh tế của đất nước.

Vậy nên, theo thầy Cường, đối với giáo dục nghề nghiệp, chính sách hỗ trợ học phí không nên là khó tuyển mới áp dụng. Cần đặt vấn đề rộng hơn, đó là những ngành, nghề đào tạo nhân lực phục vụ cho các ngành công nghiệp chất lượng cao, công nghệ đột phá, khoa học nền tảng... cũng cần được xem xét để hưởng chính sách hỗ trợ. Đơn cử, đối với công nghiệp bán dẫn, không phải toàn bộ nhân lực đều cần trình độ đại học. Trong lĩnh vực này có nhiều công đoạn như sản xuất, chế tạo, bảo trì, bảo dưỡng... là những vị trí đang sử dụng và cần lượng lớn nguồn nhân lực trình độ cao đẳng.

Chính vì vậy, theo thầy Cường, ngay cả đối với giáo dục nghề nghiệp, chính sách hỗ trợ học phí cần được dành cho những ngành xã hội cần, đất nước cần, nền kinh tế cần và nền công nghiệp cần; những ngành có vai trò đối với sự phát triển của đất nước. Làm sao để chính sách phải mang tính thực tiễn và giải quyết được tận gốc vấn đề về nhân lực.

Cùng bàn về vấn đề trên, Thạc sĩ Nguyễn Mạnh Trường – Hiệu trưởng Trường Cao đẳng Xây dựng Nam Định cho hay, đây là chính sách rất cần thiết đối với nhiều cơ sở đào tạo, đặc biệt trong những lĩnh vực mà xã hội đang có nhu cầu cao.

Đơn cử như lĩnh vực xây dựng. Theo số liệu thống kê gần nhất của Hiệp hội Nhà thầu xây dựng Việt Nam (VACC), lực lượng lao động ngành xây dựng của Việt Nam được dự đoán sẽ thiếu hụt rất trầm trọng vào năm 2027, với mức thiếu hụt lên tới 50%. Trong khi đó, xây dựng là nhóm ngành nặng nhọc, độc hại, nên tất yếu khiến không ít người học e ngại, dẫn đến khó khăn trong công tác tuyển sinh và đào tạo nhân lực.

Vì vậy, theo thầy Trường, chính sách miễn học phí đối với những ngành, nghề như vậy là rất cần thiết và có ý nghĩa quan trọng. Tuy nhiên, để giải quyết đồng bộ tình trạng thiếu hụt nhân lực của thị trường lao động, bên cạnh chính sách hỗ trợ người học, cần có những quy định, chế tài cụ thể đối với các đơn vị sử dụng lao động trong quá trình tuyển dụng và sử dụng nhân lực.

488601246-1089791816519746-3981693401386206512-n.jpg
Ảnh minh họa. Nguồn: Website Trường Cao đẳng Xây dựng Nam Định

“Trước hết, muốn phát triển nguồn nhân lực thì nhân lực phải thông qua đào tạo. Do đó, doanh nghiệp phải làm tốt và trung thực trong việc xây dựng hồ sơ năng lực khi tham gia các gói thầu xây dựng”, thầy Trường nêu quan điểm.

Bên cạnh đó, doanh nghiệp cần chấp nhận sự tham gia của các cơ sở giáo dục nghề nghiệp trong quá trình đào tạo, đặc biệt khi người học thực hành, thực tập tại doanh nghiệp. Không những vậy, đối với một số ngành, nghề đặc thù, khi tuyển dụng nhân lực, doanh nghiệp cần có cơ chế trả phí cho cơ sở đào tạo.

Theo thầy Trường, những cơ chế này sẽ góp phần tạo sự gắn kết chặt chẽ hơn giữa đào tạo và sử dụng lao động, qua đó giúp người học có căn cứ để tin tưởng vào quá trình từ khi bắt đầu học tập đến khi tốt nghiệp và tham gia thị trường lao động.

Từ thực tiễn đào tạo, thầy Trường cho rằng, để giải quyết bài toán đáp ứng nguồn nhân lực có chất lượng phục vụ sự phát triển kinh tế của đất nước, cần có sự vào cuộc đồng bộ của cả cơ sở giáo dục nghề nghiệp và doanh nghiệp, cùng với những quy định chặt chẽ để bảo đảm trách. Còn theo Thạc sĩ Nguyễn Phan Anh Quốc - Phó Hiệu trưởng Trường Trung cấp Nghiệp vụ Du lịch Phú Quốc, thông thường, những ngành, nghề đặc thù cũng là những ngành, nghề khó tuyển người học.

Theo thầy Quốc, tình trạng khó tuyển có thể xuất phát từ nhiều nguyên nhân, như đặc điểm nghề nghiệp, cơ hội việc làm sau tốt nghiệp và cả mức học phí. Do đó, khi có thêm cơ chế khuyến khích về học phí, tất yếu sẽ tạo động lực, thu hút nhiều người học hơn vào những ngành, nghề này. Qua đó, góp phần đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, khu vực và cả nước.

Từ thực tế tuyển sinh, thầy Quốc cho hay, hiện nay vẫn có một số ngành, nghề khó tuyển do chính sách hỗ trợ chưa đồng đều. Đơn cử, tại tỉnh Khánh Hòa, một số ngành đào tạo liên quan đến công nghệ điện, điện tử được định hướng phục vụ lĩnh vực năng lượng, năng lượng tái tạo - một trong những ngành mũi nhọn của địa phương.

Tuy nhiên, nếu lựa chọn học nghề Điện công nghiệp, người học được giảm 70% học phí theo chính sách dành cho các ngành, nghề nặng nhọc, độc hại. Trong khi đó, nếu lựa chọn nghề Cơ điện tử hoặc Điện công nghiệp, dù cùng có đầu ra làm việc trong môi trường năng lượng tái tạo nhưng do không được hưởng chính sách giảm học phí nên việc thu hút người học tương đối khó khăn.

Hiện nay, danh mục các ngành, nghề đặc thù hoặc ngành, nghề cần thiết cho phát triển kinh tế - xã hội nhưng khó thu hút người học vẫn chưa được ban hành. Do vậy, thầy Quốc bày tỏ, cần sớm có quy định, tiêu chí cụ thể để xác định ngành, nghề nào được coi là đặc thù, ngành, nghề nào đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế của từng địa phương, khu vực.

Việc xác định danh mục này cần dựa trên yếu tố và nhu cầu phát triển các ngành kinh tế mũi nhọn của từng địa phương, qua đó tránh tình trạng đầu tư, hỗ trợ dàn trải và lãng phí nguồn lực. Để thực hiện được điều này, theo thầy Quốc, Bộ Giáo dục và Đào tạo cần làm việc chi tiết, cụ thể với từng địa phương để xác định đúng nhu cầu nhân lực và những ngành, nghề cần ưu tiên.

“Việc thu hút đầu vào từ chính sách học phí và chính sách hỗ trợ, đồng thời bảo đảm đầu ra, chắc chắn những ngành, nghề mà xã hội cần sẽ thu hút người học hơn”, thầy Quốc nói.

Tường San