Giáo viên có nhất thiết phải làm việc 8 giờ/ngày tại cơ sở giáo dục?

27/10/2026 06:48
Cao Nguyên
Theo dõi trên Google News
0:00 / 0:00
0:00

GDVN - Theo người viết nên cân nhắc sự phù hợp của của quy định dự kiến trường hợp bảo đảm đủ điều kiện về cơ sở vật chất, trang thiết bị cho giáo viên làm việc tại trường, hiệu trưởng có thể tổ chức cho giáo viên làm việc 40 giờ/tuần, 08 giờ/ngày tại CSGD.

Bộ Giáo dục và Đào tạo đã xây dựng dự thảo Thông tư quy định chế độ làm việc đối với giáo viên phổ thông, dự bị đại học với nhiều nội dung liên quan trực tiếp đến định mức tiết dạy và thời gian làm việc của giáo viên.

Người viết là giáo viên xin có đôi điều góp ý một số nội dung quy định tại Điều 4 và Điều 14 của dự thảo Thông tư này.

4bed4c9b-d1fe-4fa6-b24c-3202dadcee8b.png
Ảnh minh hoạ được tạo bởi AI.

Cần tính đúng, tính đủ khối lượng lao động của giáo viên

Điều 7 của dự thảo Thông tư quy định như sau.

“Điều 7. Định mức tiết dạy đối với giáo viên phổ thông

1. Định mức tiết dạy trong 01 năm học được xác định như sau:

Định mức tiết dạy trong 01 năm học = Định mức tiết dạy trung bình trong 01 tuần x Số tuần giảng dạy

Trong đó, số tuần giảng dạy là số tuần giảng dạy các nội dung giáo dục trong chương trình giáo dục (không bao gồm số tuần dự phòng).

2. Định mức tiết dạy trung bình trong 01 tuần

a) Giáo viên trường tiểu học là 24 tiết;

b) Giáo viên trường trung học cơ sở là 20 tiết;

c) Giáo viên trường trung học phổ thông là 19 tiết;

d) Giáo viên trường dành cho người khuyết tật, trung tâm hỗ trợ phát triển giáo dục hòa nhập

- Giáo viên được bổ nhiệm chức danh giáo viên tiểu học là 22 tiết;

- Giáo viên được bổ nhiệm chức danh giáo viên trung học cơ sở là 18 tiết;

- Giáo viên được bổ nhiệm chức danh giáo viên trung học phổ thông là 17 tiết;

đ) Giáo viên làm Tổng phụ trách Đội Thiếu niên tiền phong Hồ Chí Minh dạy từ 06 tiết đến 08 tiết.”

Theo người viết, việc quy định định mức tiết dạy cần căn cứ vào khối lượng lao động thực tế, không nên chỉ nhìn vào số tiết giáo viên đứng lớp, bởi vì mỗi môn học có đặc thù riêng. Ngay trong cùng một cấp học, thời gian chuẩn bị bài, tổ chức hoạt động học tập và đánh giá kết quả học sinh giữa các môn cũng có sự khác biệt đáng kể.

Chẳng hạn, giáo viên Ngữ văn bậc trung học phổ thông có định mức 19 tiết mỗi tuần theo dự thảo. Nếu tính theo thời gian một tiết dạy 45 phút, tổng thời gian đứng lớp là 14,25 giờ mỗi tuần. Tuy nhiên, thời gian giảng dạy chỉ là một phần trong tổng khối lượng công việc.

Với đặc thù môn Ngữ văn, giáo viên phải đọc tác phẩm, nghiên cứu tài liệu, lựa chọn ngữ liệu, thiết kế câu hỏi và xây dựng hoạt động học tập phù hợp với từng lớp. Nếu trung bình dành 90 phút chuẩn bị cho mỗi tiết dạy, 19 tiết sẽ cần thêm 28,5 giờ mỗi tuần. Đây là mức ước tính để minh họa khối lượng công việc, không phải thời gian cố định áp dụng cho mọi giáo viên.

Công việc chấm và nhận xét bài làm của học sinh cũng chiếm nhiều thời gian. Một giáo viên dạy trung bình 4 lớp, khoảng 160 học sinh, có thể phải xử lý khoảng 3.360 đến 3.680 lượt bài kiểm tra thường xuyên, định kỳ và bài viết thực hành trong một năm học.

Nếu dành khoảng 7 phút cho mỗi bài để đọc, chấm, sửa và ghi lời phê, tổng thời gian có thể lên đến hàng trăm giờ trong năm học. Chưa kể, giáo viên còn phải xây dựng đề kiểm tra, đáp án, ma trận, bản đặc tả, nhập điểm và theo dõi sự tiến bộ của từng học sinh.

Ngoài những nhiệm vụ trên, giáo viên còn tham gia họp tổ chuyên môn, coi kiểm tra định kỳ, thực hiện bồi dưỡng thường xuyên với khối lượng 120 tiết mỗi năm học và hoàn thành các công việc khác do nhà trường phân công.

Khi cộng các nhiệm vụ này với thời gian lên lớp, chuẩn bị bài và đánh giá học sinh, tổng thời gian lao động có thể vượt đáng kể 40 giờ mỗi tuần. Mức độ chênh lệch phụ thuộc vào số lớp được phân công, số lượng học sinh, yêu cầu đánh giá và nhiệm vụ kiêm nhiệm.

Đối với giáo viên chủ nhiệm, áp lực công việc còn lớn hơn khi phải quản lý lớp, theo dõi tình hình học tập và rèn luyện, phối hợp với Đoàn Thanh niên, liên hệ cha mẹ học sinh, xử lý các tình huống phát sinh và thực hiện hồ sơ, báo cáo.

Nếu vẫn giữ nguyên các nhiệm vụ hiện có mà không tính đầy đủ thời gian thực hiện, việc quy định tổng thời gian làm việc 40 giờ mỗi tuần khó phản ánh đúng thực tế.

Cũng cần nhìn nhận rằng công nghệ thông tin và trí tuệ nhân tạo không mặc nhiên giúp giáo viên giảm thời gian lao động.

Giáo viên có thể sử dụng các công cụ này để xây dựng học liệu, thiết kế bài giảng hoặc tạo câu hỏi, nhưng vẫn phải kiểm chứng độ chính xác, điều chỉnh nội dung cho phù hợp với học sinh, xử lý vấn đề bản quyền và bảo đảm yêu cầu chuyên môn. Việc tích hợp công nghệ còn đòi hỏi thời gian chuẩn bị thiết bị, làm quen với phần mềm và xử lý sự cố kỹ thuật.

Vì vậy, trước khi điều chỉnh định mức tiết dạy, theo người viết cần khảo sát khối lượng lao động theo từng môn học, cấp học và nhiệm vụ kiêm nhiệm. Không thể chỉ căn cứ vào số tiết đứng lớp để kết luận giáo viên còn đủ thời gian thực hiện những công việc khác. Nếu định mức tăng mà các nhiệm vụ chuyên môn không giảm, áp lực lao động sẽ tiếp tục dồn lên giáo viên.

Cần làm rõ cách tổ chức thời gian làm việc của giáo viên tại trường

Điều 14 dự thảo Thông tư quy định như sau:

“Điều 14. Tổ chức thực hiện

b) Trường hợp bảo đảm đủ điều kiện về cơ sở vật chất, trang thiết bị cho giáo viên làm việc tại cơ sở giáo dục thì hiệu trưởng có thể tổ chức cho giáo viên làm việc 40 giờ/tuần, 08 giờ/ngày tại cơ sở giáo dục; xây dựng quy chế làm việc cụ thể tại cơ sở giáo dục để quản lý thời gian làm việc 40 giờ/tuần của giáo viên bảo đảm hiệu quả, đúng quy định tại Thông tư này và pháp luật về lao động.”

Theo người viết, quy định này cần làm rõ hơn căn cứ tổ chức cho giáo viên làm việc 8 giờ mỗi ngày tại trường. Có phòng làm việc, máy tính và mạng Internet là điều kiện thuận lợi để giáo viên thực hiện nhiệm vụ, nhưng không có nghĩa mọi công việc đều phải tiến hành tại trường.

Công việc của giáo viên có những phần gắn với thời gian và địa điểm cố định như lên lớp, họp hội đồng, sinh hoạt tổ chuyên môn, coi kiểm tra và tham gia các hoạt động giáo dục. Tuy nhiên, nhiều nhiệm vụ khác như soạn bài, đọc tài liệu, xây dựng câu hỏi, chấm bài và nhận xét kết quả học tập cần sự chủ động về thời gian.

Một giáo viên có thể hoàn thành việc soạn bài ở nhà trong khoảng thời gian tập trung, yên tĩnh. Ngược lại, nếu phải có mặt tại trường đủ 8 giờ nhưng thời khóa biểu chỉ có một số tiết dạy, các nhiệm vụ được phân công cũng không lấp đầy thời gian còn lại, giáo viên vẫn phải ở trường theo quy định. Khi đó, thời gian hiện diện tại trường tăng lên nhưng chưa chắc hiệu quả công việc được cải thiện.

Nếu phải ở trường đủ 8 giờ mỗi ngày mà không được giảm bớt nhiệm vụ khác, giáo viên có thể gặp khó khăn trong việc sắp xếp công việc. Một giáo viên có thể phải ở trường đến cuối buổi chiều nhưng vẫn tiếp tục chấm bài hoặc chuẩn bị bài giảng tại nhà vì chưa hoàn thành nhiệm vụ.

Nhiều giáo viên nêu ý kiến, trước khi áp dụng quy định này, Bộ Giáo dục và Đào tạo cần xác định rõ khối lượng công việc của giáo viên có tương ứng với thời gian làm việc 40 giờ mỗi tuần hay không.

Nếu tổ chức làm việc tại trường, cần quy định cụ thể những trường hợp áp dụng, cách phân công nhiệm vụ và phương thức quản lý thời gian. Nhà trường cũng cần có không gian phù hợp để giáo viên đọc tài liệu, soạn bài và chấm bài, thay vì chỉ đáp ứng điều kiện cơ sở vật chất theo nghĩa có chỗ ngồi và thiết bị làm việc.

Việc quản lý giáo viên nên gắn với tiến độ, chất lượng và kết quả thực hiện nhiệm vụ, không chỉ dựa vào thời gian có mặt tại trường. Điều quan trọng là phải bảo đảm giáo viên hoàn thành đầy đủ trách nhiệm chuyên môn trong một quỹ thời gian hợp lý.

Nếu chưa tính đủ khối lượng lao động mà chỉ yêu cầu có mặt 8 giờ mỗi ngày, quy định mới có thể làm tăng áp lực cho giáo viên nhưng chưa chắc nâng cao hiệu quả giảng dạy.

Tài liệu tham khảo:

https://giaoduc.net.vn/7-noi-dung-duoc-nhieu-giao-vien-quan-tam-tai-du-thao-che-do-lam-viec-voi-giao-vien-pho-thong-post263511.gd

(*) Văn phong, nội dung bài viết thể hiện góc nhìn, quan điểm của tác giả.

Cao Nguyên