Nhà trường và tổ chuyên môn làm gì khi Sở GD&ĐT ra đề kiểm tra học kỳ với lớp cuối cấp?

26/10/2026 06:46
Nguyễn Hoàng
Theo dõi trên Google News
0:00 / 0:00
0:00

GDVN - Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Thông tư 89/2026/TT-BGDĐT sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy định đánh giá học sinh tiểu học (kèm Thông tư 27/2020/TT-BGDĐT) và Quy định đánh giá học sinh THCS, THPT (kèm Thông tư 22/2021/TT-BGDĐT).

Theo đó, Điều 7 Thông tư 89 sửa đổi, bổ sung Điều 14 Thông tư 27; và Điều 20 Thông tư 89 bổ sung vào Khoản 5 Điều 16 Thông tư 22 có quy định: Sở Giáo dục và Đào tạo có trách nhiệm chủ trì xây dựng, thẩm định, cung cấp đề kiểm tra định kỳ cuối học kỳ I và cuối năm học chung cho các cơ sở giáo dục trên địa bàn đối với học sinh lớp 5, 9, 12. Sở chọn một số môn học đánh giá bằng điểm số và thông báo cho các cơ sở giáo dục cùng cấp học.

Về phía nhà trường, Điều 8 Thông tư 89 sửa đổi, bổ sung khoản 3 Điều 15 Thông tư 27; và Điều 21 Thông tư 89 bổ sung khoản 7 vào Điều 18 Thông tư 22 đều nêu rõ trách nhiệm của nhà trường: Tổ chức kiểm tra định kỳ cuối học kỳ I, học kỳ II (cuối năm học) đối với học sinh lớp 5, 9, 12 theo đề chung do Sở cung cấp; đồng thời tự tổ chức ra đề kiểm tra định kỳ đối với các môn học, thời điểm kiểm tra và khối lớp còn lại.

kiem-tra-hoc-ky.jpg
Ảnh minh họa.

Dưới góc độ một giáo viên trực tiếp đứng lớp và làm công tác quản lý chuyên môn, người viết nhận thấy đây là một bước chuyển dịch căn bản trong công tác khảo thí cuối cấp. Việc này giải tỏa áp lực rất lớn cho giáo viên dạy các khối 5, 9, 12, đặc biệt là môn Ngữ văn; đồng thời trao cho nhà trường một thước đo thực chất để đối sánh chất lượng giáo dục giữa các đơn vị.

Thực trạng mỗi nơi một kiểu cấu trúc đề kiểm tra Ngữ văn

Bộ Giáo dục và Đào tạo đã nhiều lần tập huấn chuyên môn, song thực tế tại nhà trường vẫn tồn tại những độ vênh rất lớn giữa văn bản chỉ đạo và triển khai thực hiện.

Thứ nhất, tư duy đồng nhất giữa “kiểm tra định kỳ” và “thi tốt nghiệp/tuyển sinh”. Trong hệ thống văn bản pháp quy hiện hành, nhà trường chỉ có thẩm quyền tổ chức đánh giá thường xuyên và kiểm tra định kỳ; hoàn toàn không có chức năng tự tổ chức kỳ thi. Khoản 1 Điều 7 Thông tư 22/2021/TT-BGDĐT quy định rõ: “Thời gian làm bài kiểm tra (trên giấy hoặc trên máy tính) đối với môn học (không bao gồm cụm chuyên đề học tập) có từ 70 tiết/năm học trở xuống là 45 phút, đối với môn học (không bao gồm cụm chuyên đề học tập) có trên 70 tiết/năm học từ 60 phút đến 90 phút; đối với môn chuyên tối đa 120 phút”.

Nhưng thực tế, nhiều trường lại tự biến bài kiểm tra định kỳ thành một “kỳ thi thu nhỏ”. Thay vì xây dựng đúng định dạng kiểm tra định kỳ 90 phút theo hướng dẫn chuyên môn của Bộ. Đơn cử là công văn 3175/BGDĐT-GDTrH về đổi mới phương pháp dạy học và kiểm tra, đánh giá môn Ngữ văn, yêu cầu dùng ngữ liệu đánh giá ngoài sách giáo khoa. Đồng thời, nhiều lần Bộ tập huấn ra đề kiểm tra định kỳ với cấu trúc Đọc hiểu 6.0 điểm với 6 câu hỏi và Viết 4.0 điểm gồm 1 câu viết bài văn. Vậy nhưng, không ít giáo viên lại bê nguyên xi cấu trúc của đề thi tốt nghiệp trung học phổ thông sang bài kiểm tra định kỳ tại trường với suy nghĩ đơn giản: “cho học sinh cọ xát, tập dượt thi”. Việc tập dượt thì nên tổ chức thi thử, hoặc rèn luyện trong tiết ôn thi chứ không thể đề kiểm tra ra như đề thi. Điều đó theo người viết là không đúng hướng dẫn chuyên môn.

Thứ hai, lập luận yêu cầu số chữ một cách cơ học là không đúng với năng lực ngôn ngữ. Khi thấy thời gian kiểm tra quy định chỉ có 90 phút so với đề thi 120 phút, nhiều thầy cô tư duy đơn giản là chỉ yêu cầu viết đoạn văn từ 200 chữ xuống 150 chữ, bài văn từ 600 chữ xuống 500 chữ. Đây là cách làm hoàn toàn sai lầm về mặt bản chất phương pháp. Bởi lẽ, để giải quyết một ngữ liệu mới, học sinh vẫn phải mất ngần ấy thời gian đọc hiểu, phân tích văn bản, huy động vốn kiến thức và tổ chức lập luận. Bớt vài chục chữ không làm giảm tải dung lượng tư duy mà chỉ biến việc đánh giá thành một phép tính đối phó. Vì thế, việc Sở ra đề chung là rất cần thiết để ngăn chặn tình trạng “mỗi nơi một kiểu” như trên.

Sở ra đề, nhà trường và tổ chuyên môn cần chuẩn bị những gì?

Để kiểm tra theo đề chung của Sở mà không rơi vào trạng thái bị động hay bối rối, theo người viết, nhà trường và tổ chuyên môn cần tập trung vào bốn nhóm giải pháp cụ thể.

Thứ nhất, dạy kỹ năng theo đặc trưng thể loại thay vì học thuộc câu chữ sách giáo khoa. Khi đề kiểm tra sử dụng ngữ liệu hoàn toàn ngoài sách giáo khoa, việc dạy học vẹt, học tủ hay “mớm đề” sẽ chấm dứt. Do đó, tổ chuyên môn phải dừng ngay việc dạy bài học như một cứu cánh nội dung; mà thay vào đó, phải lấy văn bản làm phương tiện rèn công cụ. Học sinh cần được trang bị nhuần nhuyễn thao tác đọc hiểu đặc trưng thể loại, kỹ năng nhận diện, phân tích văn bản và kỹ năng lập luận, dựng đoạn, liên hệ thực tế trong bài viết nghị luận.

Thứ hai, điều chỉnh tiến độ và thời lượng dạy học thực chất. Môn Ngữ văn lâu nay thường xuyên đối mặt với nguy cơ trễ chương trình do ngữ liệu dài và tiết học bị dàn trải. Đây là cơ hội để giáo viên chủ động phân phối thời lượng hợp lý, đảm bảo chương trình trước thời điểm Sở tổ chức kiểm tra chung, để học sinh hoàn thành nội dung kiến thức trọng tâm theo khung kế hoạch. Có thể, tổ chuyên môn dành tối thiểu một tuần để củng cố phương pháp, hệ thống hóa năng lực, tránh tình trạng dạy dồn dập khiến học sinh bị áp lực tâm lý.

Thứ ba, chuẩn hóa ngân hàng câu hỏi và ma trận đề nội bộ theo chuẩn kiểm tra. Tổ chuyên môn phải nghiên cứu kỹ bảng đặc tả, ma trận đề kiểm tra do Sở định hướng để áp dụng ngay từ các bài kiểm tra giữa học kỳ I của trường. Tuyệt đối không nên sao chép cấu trúc đề thi tốt nghiệp đưa vào đề kiểm tra định kỳ. Đề của trường phải đúng chuẩn mực đề kiểm tra: phân hóa rõ ràng theo các mức độ (nhận biết, thông hiểu, vận dụng) nhằm rèn luyện tư duy phản biện và khả năng giải quyết vấn đề thực tiễn cho học sinh.

Thứ tư, siết chặt khâu tổ chức để có dữ liệu đối sánh trung thực. Đề do Sở cung cấp, nhưng in sao đề, coi kiểm tra, chấm kiểm tra và nhập điểm vẫn là trách nhiệm thuộc về các cơ sở giáo dục (theo Khoản 7 Điều 18 bổ sung). Để khách quan trong đánh giá, nhà trường cần trộn danh sách học sinh theo khối, xếp số báo danh nghiêm túc và thực hiện rọc phách trước khi chấm. Điều quan trọng nhất là kết quả bài kiểm tra phải được phân tích bằng biểu đồ phổ điểm minh bạch, xác định những năng lực học sinh còn chưa đạt để tổ chuyên môn kịp thời lên kế hoạch bồi dưỡng ngay trong học kỳ tiếp theo.

Theo người viết, việc Sở ra đề kiểm tra cuối kỳ là cơ hội để các cơ sở giáo dục định vị chất lượng dạy học của đơn vị mình. Từ đó, nhà trường và giáo viên buộc phải dạy thật, học sinh buộc phải học thật để hình thành năng lực thật. Đó là bản chất cốt lõi của Chương trình Giáo dục phổ thông 2018.

(*) Văn phong, nội dung bài viết thể hiện góc nhìn, quan điểm của tác giả.

Nguyễn Hoàng