Hà Nội: Mô hình Vườn ươm giúp doanh nghiệp thực phẩm rút ngắn quá trình thương mại hóa sản phẩm

17/09/2026 07:00
Ngọc Mai
Theo dõi trên Google News
0:00 / 0:00
0:00

GDVN - Doanh nghiệp mong muốn thành phố có thể nghiên cứu xây dựng một khu vực dành cho doanh nghiệp sau ươm tạo, tiếp nhận những doanh nghiệp đã hoàn thành giai đoạn ươm tạo nhưng chưa đủ điều kiện để tự đầu tư nhà máy riêng.

Vườn ươm Doanh nghiệp chế biến và đóng gói thực phẩm Hà Nội (HBI) trực thuộc Trung tâm Xúc tiến đầu tư và Hỗ trợ doanh nghiệp Hà Nội (Sở Tài chính Hà Nội) ngày càng thể hiện vai trò "bệ đỡ" hỗ trợ doanh nghiệp chế biến thực phẩm phát triển, đặc biệt với những doanh nghiệp vừa và nhỏ còn hạn chế về vốn, cơ sở vật chất và năng lực quản trị.

Với các doanh nghiệp khởi nghiệp, từ công thức trong phòng thí nghiệm đến sản phẩm được thị trường đón nhận là một chặng đường không ngắn. Trong giai đoạn đầu, doanh nghiệp gặp khó khi phải giải quyết các yêu cầu về nhà xưởng, thiết bị, quy trình sản xuất, nhân lực, tiêu chuẩn chất lượng và thị trường trong khi nguồn lực còn hạn chế.

Câu chuyện của Công ty Cổ phần Thực phẩm TCI Việt Nam cho thấy lợi ích rõ rệt của mô hình vườn ươm của Hà Nội. Sau khoảng 4,5 năm hoạt động trong vườn ươm, doanh nghiệp đã từng bước đưa các ý tưởng phát triển gia vị từ nông sản Việt thành sản phẩm thực tế, đồng thời có thêm điều kiện để hoàn thiện năng lực sản xuất và quản trị.

Nâng giá trị nông sản bằng công nghệ chế biến

Trao đổi với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, ông Phạm Văn Thắng - Giám đốc Công ty Cổ phần Thực phẩm TCI Việt Nam cho biết, các sản phẩm đặc trưng của công ty trên thị trường hiện nay có thể kể đến như bột chiên gà, bắp rang bơ, bột phô mai...

Nguồn cảm hứng phát triển sản phẩm của doanh nghiệp bắt đầu từ chính những nông sản Việt Nam. Qua thực tế, doanh nghiệp nhận thấy nhiều loại nông sản đang được bán với giá trị thấp hơn đáng kể so với giá trị có thể tạo ra nếu được chế biến sâu.

anh-thang-7356.jpg
Ông Phạm Văn Thắng - Giám đốc Công ty Cổ phần Thực phẩm TCI Việt Nam. Ảnh: NVCC

“Người nông dân rất khó tự mình thay đổi cục diện, nâng giá trị của nông sản. Muốn làm được điều đó cần có đơn vị chế biến đứng ra kết nối, đưa công nghệ vào quá trình sản xuất và phát triển sản phẩm.

Đây cũng là nền tảng để TCI Việt Nam lựa chọn hướng đi tập trung vào lĩnh vực gia vị và thực phẩm. Với đội ngũ lãnh đạo có nền tảng trong ngành công nghệ thực phẩm, doanh nghiệp bắt đầu nghiên cứu cách đưa những gia vị, công thức truyền thống của Việt Nam vào các sản phẩm hiện đại”, ông Thắng chia sẻ.

Chẳng hạn, với sản phẩm bột chiên gà, doanh nghiệp phát triển công thức kết hợp gia vị với các loại thảo mộc. Với bột phô mai, bên cạnh công thức truyền thống, doanh nghiệp nghiên cứu bổ sung những hương vị đặc trưng từ thảo mộc Việt.

Theo Giám đốc TCI Việt Nam, thị trường F&B tại Việt Nam còn rất nhiều tiềm năng và đây là hướng phát triển mà doanh nghiệp xác định theo đuổi trong thời gian tới.

Mục tiêu sâu xa hơn là tạo thêm giá trị cho nguồn nguyên liệu trong nước thông qua chế biến.

Tuy nhiên, để tạo ra một sản phẩm có chất lượng ổn định từ nông sản Việt, doanh nghiệp phải giải quyết một bài toán không đơn giản, đó là sự không đồng đều của nguyên liệu.

Ông Thắng cho biết, để phát triển một sản phẩm như bột hoa tiêu dùng cho gà ủ muối hoa tiêu, doanh nghiệp phải làm việc trực tiếp với nông dân và những người thu mua tại các vùng có nguồn nguyên liệu đặc thù.

Doanh nghiệp đưa yêu cầu và công nghệ đến vùng nguyên liệu, hướng dẫn phương pháp thu hoạch, sau đó mang nguyên liệu về sơ chế trước khi đưa vào quy trình sản xuất.

“Khó khăn lớn là chất lượng nguồn nông sản ở mỗi vùng miền chưa đồng đều. Do mỗi người dân lại có cách trồng và điều kiện canh tác khác nhau, dẫn đến chất lượng nông sản khác nhau.

Nếu không kiểm soát được sự khác biệt từ vùng nguyên liệu, doanh nghiệp sẽ khó tạo ra sản phẩm có chất lượng ổn định. Do vậy, TCI Việt Nam lựa chọn giải pháp thống nhất hệ thống thu mua, phối hợp với người dân về công nghệ nuôi trồng, đồng thời đưa toàn bộ nguyên liệu về doanh nghiệp để xử lý, cân bằng chất lượng trước khi sản xuất”, ông Thắng phân tích.

Cách làm này cũng cho thấy, việc nâng giá trị nông sản là một chuỗi liên kết từ vùng nguyên liệu, người nông dân, công nghệ, thu mua đến chế biến và thương mại hóa sản phẩm. Tuy nhiên, với một doanh nghiệp quy mô vừa và nhỏ, để xây dựng được toàn bộ chuỗi này, bài toán cơ sở vật chất và nguồn lực đầu tư ban đầu là một trở ngại lớn. Và đây cũng chính là khoảng trống mà HBI đang hỗ trợ doanh nghiệp rất hiệu quả.

Quy trình sản xuất bột phô mai tại Công ty Cổ phần Thực phẩm TCI Việt Nam. Video: Ngọc Mai

“Bệ đỡ” để đưa sản phẩm từ phòng lab ra thị trường

Theo ông Phạm Văn Thắng, một trong những giá trị rõ nhất mà TCI Việt Nam nhận được khi tham gia Vườn ươm là điều kiện cơ sở vật chất để chuyển sản phẩm từ giai đoạn nghiên cứu sang sản xuất và đưa ra thị trường.

“Để đưa sản phẩm từ phòng lab nghiên cứu ra thị trường, nhiều doanh nghiệp nhỏ và vừa không đủ điều kiện để làm. Trong khi đó, vườn ươm có điều kiện cơ sở vật chất, mặt bằng và hỗ trợ các thủ tục giúp công ty đưa được sản phẩm ra thị trường thuận lợi hơn”, ông Thắng cho biết.

Với doanh nghiệp thực phẩm, đây là một bước chuyển có ý nghĩa quan trọng. Một công thức được nghiên cứu thành công trong phòng thí nghiệm chưa đồng nghĩa với việc có thể sản xuất ngay ở quy mô lớn. Doanh nghiệp phải thử nghiệm, hoàn thiện quy trình, đánh giá thị trường và từng bước điều chỉnh sản phẩm. Trong quá trình đó, HBI hỗ trợ doanh nghiệp về cơ sở vật chất, không gian sản xuất và các điều kiện cần thiết để tiếp tục hoàn thiện sản phẩm.

Bên cạnh hỗ trợ về hạ tầng, theo ông Thắng, doanh nghiệp còn được tham gia các chương trình đào tạo cán bộ, công nhân viên; hỗ trợ truyền thông và đào tạo quản lý cho đội ngũ lãnh đạo doanh nghiệp. Các hoạt động hỗ trợ này góp phần nâng cao năng lực vận hành và quản trị doanh nghiệp. Nếu hạ tầng tạo điều kiện để sản phẩm được sản xuất, thì đào tạo và hỗ trợ quản trị giúp doanh nghiệp từng bước hình thành năng lực vận hành bài bản hơn.

Cần thêm “bước đệm” sau giai đoạn ươm tạo

Sau khoảng 4,5 năm tham gia Vườn ươm, TCI Việt Nam vẫn đang trong quá trình phát triển và hoàn thiện sản phẩm. Với ông Thắng, thời gian 5 năm của một chu kỳ ươm tạo là chưa đủ nếu đặt trong đặc thù ngành thực phẩm.

Bởi, từ ý tưởng sản phẩm đến khi hoàn thành nghiên cứu, đánh giá thị trường rồi đưa vào sản xuất cần một khoảng thời gian đáng kể. Trong 1-3 năm đầu thường là công tác nghiên cứu thực nghiệm, đánh giá thị trường, sau quá trình đó mới tìm ra được sản phẩm để triển khai.

Máy trộn lục giác phục vụ sản xuất của Công ty Cổ phần Thực phẩm TCI Việt Nam đặt tại vườn ươm. Ảnh: Ngọc Mai

Máy trộn lục giác phục vụ sản xuất của Công ty Cổ phần Thực phẩm TCI Việt Nam đặt tại vườn ươm. Ảnh: Ngọc Mai

Do đó, nếu thời gian ươm tạo giới hạn trong 5 năm, doanh nghiệp có thể phải tính đến phương án rời vườn ươm ngay khi vừa xác định được sản phẩm phù hợp với thị trường. Vì thế, lãnh đạo doanh nghiệp đề xuất thành phố có thể nghiên cứu xây dựng một khu vực dành cho doanh nghiệp sau ươm tạo, hỗ trợ doanh nghiệp đã hoàn thành giai đoạn ươm tạo nhưng chưa đủ điều kiện tự đầu tư nhà máy riêng.

Đối với TCI Việt Nam, khi kết thúc 5 năm tại vườn ươm, hướng đi được doanh nghiệp tính đến là kết nối với những đơn vị có năng lực lớn hơn để cùng tham gia các dự án có chung định hướng phát triển. Đây cũng là bước chuyển từ mô hình “ươm tạo” sang “liên kết phát triển”.

Ngọc Mai