Nhiều thuận lợi khi bác sĩ, dược sĩ được xác định trình độ đào tạo ở bậc 7

02/08/2026 06:20
Tường San
Theo dõi trên Google News
0:00 / 0:00
0:00

GDVN -Thời gian qua, chúng ta đã có sự đánh đồng giữa chương trình đào tạo 4 năm, 5 năm và 6 năm khi người học tốt nghiệp đều được xếp ở cùng một bậc trình độ là bậc 6. Điều này khiến nhiều bác sĩ, dược sĩ sau khi tốt nghiệp chịu nhiều thiệt thòi.

Theo Quyết định số 39/2026/QĐ-TTg quy định về Khung trình độ quốc gia Việt Nam được ban hành ngày 23/7/2026, người tốt nghiệp chương trình đào tạo chuyên sâu của giáo dục đại học được xếp ở bậc 6 hoặc bậc cao hơn, căn cứ vào trình độ đầu vào, khối lượng học tập và mức độ đáp ứng chuẩn đầu ra của bậc trình độ tương ứng.

Đáng chú ý, tại phụ lục mô tả các bậc trình độ và khối lượng học tập tối thiểu trong Khung trình độ quốc gia Việt Nam, khối lượng học tập tối thiểu của bậc trình độ 7 được chia làm 2 loại.

Một là chương trình đào tạo có đầu vào trình độ đại học - 60 tín chỉ đối với định hướng nghiên cứu và 45 tín chỉ đối với định hướng ứng dụng; Hai là chương trình đào tạo có đầu vào tốt nghiệp trung học phỗ thông - 162 tín chỉ đối với định hướng nghiên cứu, bao gồm cả chương trình tích hợp cấp bằng thạc sĩ và 150 tín chỉ đối với định hướng ứng dụng, bao gồm cả chương trình đào tạo chuyên sâu trong một số ngành, lĩnh vực.

Đối với loại chương trình đào tạo có đầu vào tốt nghiệp trung học phổ thông, theo lãnh đạo một số cơ sở giáo dục đại học đào tạo bác sĩ, dược sĩ, việc xác định rõ bậc trình độ đúng với các chương trình đào tạo chuyên sâu sẽ góp phần mang lại nhiều thuận lợi hơn cho người học sau khi tốt nghiệp, nhất là trong hành nghề và hưởng các chế độ, chính sách liên quan.

Bác sĩ, dược sĩ được xếp đúng bậc trình độ sau nhiều năm chịu thiệt thòi

Chia sẻ với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, Tiến sĩ, Bác sĩ Lê Viết Nho – Hiệu trưởng Trường Y Dược (Đại học Đà Nẵng) cho rằng, việc phân loại bậc đào tạo đối với những ngành tốt nghiệp chương trình đào tạo chuyên sâu 5-6 năm (bác sĩ, dược sĩ) và chương trình đào tạo cử nhân học 4 năm là vấn đề đã được đề cập trong nhiều năm.

Theo thầy Nho, lâu nay vẫn có nhiều người đánh đồng giữa chương trình đào tạo 4 năm, 5 năm và 6 năm khi người học tốt nghiệp đều được xếp ở cùng một bậc trình độ là bậc 6. Điều này khiến bác sĩ, dược sĩ sau khi tốt nghiệp chịu nhiều thiệt thòi.

Thực tế nhiều năm qua cho thấy, họ phải trải qua chương trình đào tạo kéo dài 5-6 năm, nhưng khi bước vào thị trường lao động, mức lương của những người này vẫn tương đương với người tốt nghiệp chương trình đào tạo cử nhân 4 năm. Cách ghi nhận như vậy chưa phản ánh đầy đủ thời gian, công sức học tập cũng như yêu cầu đặc thù của những ngành nghề này; đặc biệt là với những bác sĩ, dược sĩ làm việc trong các cơ quan, đơn vị nhà nước, việc xác định đúng trình độ đào tạo bậc 7 có ý nghĩa trực tiếp đến quyền lợi như khi tính lương, phụ cấp theo hệ số của họ.

image-20250715102622-3.jpg
Ảnh minh họa. Nguồn: Website Trường Y Dược (Đại học Đà Nẵng).

“Phần lớn bác sĩ sau khi tốt nghiệp lựa chọn hành nghề, nhưng trong thời gian dài vừa qua đã chịu thiệt thòi khi được xếp chung bậc trình độ với những người tốt nghiệp chương trình đào tạo cử nhân 4 năm. Vấn đề này đã được bàn luận từ lâu, nhưng đến nay mới được đưa ra chính thức trong Khung năng lực trình độ quốc gia Việt Nam, qua đó ghi nhận đúng hơn trình độ và công sức của những người theo học các ngành đào tạo đặc thù như bác sĩ”, thầy Nho bày tỏ.

Tuy nhiên, thầy Nho cũng lưu ý, đối với những bác sĩ muốn tham gia công tác giảng dạy, vẫn phải hoàn thành chương trình đào tạo trình độ thạc sĩ trở lên như giảng viên ở các ngành đào tạo khác. Đồng thời, nếu giảng dạy lâm sàng vẫn phải hoàn thành các yêu cầu về chứng chỉ hành nghề theo quy định. Lý do là khi chuyển sang giảng dạy, người bác sĩ không còn đảm nhiệm chức danh nghề nghiệp bác sĩ mà thực hiện công việc với chức danh giảng viên. Vì vậy, thời gian đào tạo để một bác sĩ có thể trở thành giảng viên giảng dạy chương trình đào tạo bác sĩ có thể kéo dài tối thiểu 9 năm trở lên.

Đối với Trường Y Dược (Đại học Đà Nẵng), trong năm học tới, nhà trường cũng đang tích cực đổi mới chương trình đào tạo theo xu hướng chung của thế giới, đồng thời bảo đảm phù hợp với bối cảnh thực tiễn; tập trung vào đổi mới chương trình và đầu tư cơ sở vật chất phục vụ đào tạo. Dự kiến năm 2027, trường sẽ có trung tâm mô phỏng cùng một số trung tâm phục vụ đào tạo chuyên môn, qua đó góp phần nâng cao năng lực đào tạo và thực hành cho người học ngành Y Dược.

Đồng tình với quan điểm trên, Phó Giáo sư, Tiến sĩ, Bác sĩ Nguyễn Văn Khải – Hiệu trưởng Trường Đại học Y Dược Hải Phòng cho rằng, việc xác định trình độ đào tạo cần căn cứ vào thời gian, khối lượng kiến thức và chuẩn đầu ra của từng chương trình. Theo thầy Khải, chương trình đào tạo cử nhân hiện quy định tối thiểu 120 tín chỉ; đối với dược sĩ là tối thiểu 150 tín chỉ, còn chương trình đào tạo bác sĩ là tối thiểu 180 tín chỉ. Trong quá trình đào tạo, tùy điều kiện của từng cơ sở giáo dục đại học, khối lượng tín chỉ có thể được điều chỉnh cao hơn mức tối thiểu.

Tham chiếu với hệ thống đào tạo của nước ngoài, thầy Khải thông tin, tại một số quốc gia, người tốt nghiệp bác sĩ được gọi là doctor (Dr.) - tức tương đương với bậc sau đại học. Trong khi đó, nhiều năm qua, Việt Nam vẫn xếp trình độ bác sĩ tương đương trình độ đại học (bậc 6). Điều này dẫn tới sự chưa tương xứng giữa thời gian đào tạo và việc ghi nhận trình độ. Người tốt nghiệp chương trình đào tạo 3,5 - 4 năm và người hoàn thành chương trình 6 năm có thể được xếp ở cùng một bậc khi xác định một số chế độ. Như vậy, quyền lợi của người học cũng như mức độ ghi nhận công sức đào tạo chưa thực sự tương xứng.

“Một người học chương trình đào tạo 6 năm tất yếu phải được thuận lợi hơn so với người học 4 năm. Vì vậy, việc xếp lương đối với bác sĩ cũng ít nhất phải cao hơn so với những cử nhân tốt nghiệp chương trình 4 năm một bậc”, thầy Khải bày tỏ.

Ở góc độ hội nhập, thầy Khải cho rằng, khi so sánh trình độ đào tạo giữa các quốc gia, một trong những vấn đề đầu tiên cần xem xét là khối lượng kiến thức mà người học được đào tạo có tương đồng hay không. Việc xác định rõ trình độ cũng góp phần tạo điều kiện thu hút người nước ngoài tham gia môi trường học thuật y khoa trong nước.

Bên cạnh đó, quy định về chuẩn trình độ sẽ trở thành cơ sở để các cơ sở giáo dục đại học thiết kế chương trình đào tạo phù hợp, xác định khối lượng kiến thức cần thiết và hướng tới sự tương đồng với các chương trình đào tạo của các nước trong khu vực.

Thầy Khải thông tin thêm, hiện Bộ Y tế đang xây dựng chương trình đào tạo chuyên sâu sau đại học thuộc lĩnh vực sức khỏe cấp văn bằng bác sĩ nội trú và bác sĩ chuyên khoa (không còn chia thành chuyên khoa 1, chuyên khoa 2). Đây cũng là một đặc điểm của đào tạo y khoa tại nhiều quốc gia, khi hoạt động hành nghề chú trọng vào chuyên môn chuyên khoa. Vì vậy, việc thay đổi mô hình đào tạo chuyên khoa cũng được xem là một trong những bước đi ban đầu để Việt Nam tiếp cận thông lệ quốc tế, đồng thời từng bước xây dựng hệ thống đào tạo y khoa phù hợp hơn trong thời gian tới.

Đảm bảo sự công bằng cho người học

Đối với những người tốt nghiệp chương trình đào tạo dược sĩ, Tiến sĩ Cao Văn Dư – Trưởng khoa Dược, Trường Đại học Lạc Hồng cho hay, việc xác định bậc trình độ đúng theo khối lượng chương trình đào tạo góp phần bảo đảm sự công bằng cho người học. Bởi, chương trình đào tạo bác sĩ, dược sĩ vốn có thời gian đào tạo dài hơn, khối lượng kiến thức nhiều hơn so với phần lớn các ngành trình độ đại học khác (vốn chủ yếu đào tạo trong khoảng 3,5-4 năm).

Theo thầy Dư, trên thực tế, dược sĩ có vai trò quan trọng trong quá trình điều trị của bệnh nhân. Nếu bác sĩ thực hiện nhiệm vụ khám, chữa bệnh thì dược sĩ đảm nhiệm việc cung cấp, phân tích thuốc, phân tích đơn thuốc để phối hợp xử lý tình trạng bệnh lý theo chỉ định của bác sĩ. Trong công tác lâm sàng, trước khi đơn thuốc đến với bệnh nhân, cần có sự tham gia của dược sĩ.

Hơn nữa, trong quá trình đào tạo, người tham gia học chương trình đào tạo dược sĩ vốn phải học với thời gian dài hơn, chương trình đào tạo dày dặn, chuyên sâu hơn những ngành đào tạo cử nhân 3,5-4 năm. Chính vì vậy, người dược sĩ sau khi tốt nghiệp tất yếu thường có tính thực chiến rất cao, có chuyên môn, năng lực để có thể làm việc ngay trong môi trường y tế.

Chính vì vậy, theo thầy Dư, nếu không có chính sách phù hợp và cơ chế ưu đãi đối với lĩnh vực này, người làm nghề có thể chịu nhiều thiệt thòi, đồng thời thiếu động lực để phát triển chuyên môn.

Do đó, khi đánh giá theo thang, bậc, ngạch tại các cơ sở y tế, việc có quy định, chính sách phù hợp đối với đội ngũ dược sĩ, nhằm tương xứng với thời gian đào tạo, yêu cầu chuyên môn và trách nhiệm nghề nghiệp là rất quan trọng. Và việc xếp bậc trình độ của các dược sĩ vào khung năng lực bậc 7 cũng góp phần khẳng định vị thế của họ, từ đó tạo thêm thuận lợi để họ phát huy năng lực nghề nghiệp.

Tường San