Yêu cầu cơ sở thực hành ngành Sức khỏe ngày càng cao, Trường ĐH Y tế Công cộng đáp ứng ra sao?

14/08/2026 06:20
Mạnh Dũng
Theo dõi trên Google News
0:00 / 0:00
0:00

GDVN - Trường ĐH Y tế Công cộng cho biết, nhà trường sẽ điều chỉnh, sắp xếp lại một số phòng cho đúng theo tên gọi/công năng như quy định trong Thông tư số 54/2026/TT-BGDĐT quy định về chương trình đào tạo các trình độ của giáo dục đại học.

Trường Đại học Y tế Công cộng tiền thân là Trường Cán bộ Quản lý Y tế được thành lập năm 1976. Ngày 26/4/2001, Thủ tướng chính phủ đã ra Quyết định số 65/2001/QĐ-TTg thành lập Trường Đại học Y tế Công cộng. Đến tháng 10/2016, trường chính thức đổi tên tiếng Anh thành Hanoi University of Public Health (HUPH).

Theo thông tin trên website, trường có sứ mạng đào tạo nguồn nhân lực, thực hiện nghiên cứu khoa học và cung cấp các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, qua đó có những đóng góp quan trọng vào sự nghiệp chăm sóc, bảo vệ sức khỏe nhân dân và phát triển kinh tế xã hội của đất nước.

Trụ sở chính của nhà trường ở số 1A, đường Đức Thắng, phường Đông Ngạc, thành phố Hà Nội. Hiện, Hiệu trưởng Trường Đại học Y tế Công cộng là Giáo sư, Tiến sĩ Hoàng Văn Minh.

dh-y-te-cong-cong.jpg
Trường Đại học Y tế công cộng. (Ảnh: Nhật Lệ)

Chưa công khai báo cáo thường niên năm gần nhất do có thông tin cần điều chỉnh và tổng hợp lại

Thời gian qua, Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam nhận được phản ánh của độc giả về Báo cáo thường niên của Trường Đại học Y tế Công cộng năm 2026 tiêu đề bên ngoài của năm gần nhất nhưng nội dung bên trong lại là của năm học 2024-2025.

Theo quy định, từ ngày 19/07/2024, các cơ sở giáo dục thực hiện báo cáo thường niên theo Thông tư số 09/2024/TT-BGDĐT của Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định về công khai trong hoạt động của các cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân. Thời điểm công khai trước 30/6 hàng năm.

Sau đó, phóng viên đã tiến hành tìm hiểu website của nhà trường. Tính đến ngày 23/7/2026, tại mục “Ba công khai” trên website, nhà trường đăng tải “Ba công khai - Trường Đại học Y tế Công cộng - Năm 2026”, nhưng khi phóng viên truy cập vào mục này, giao diện hiện ra là Báo cáo thường niên năm học 2024 - 2025 do Phó Hiệu trưởng Lê Thị Thanh Hương ký ngày 8/4/2025.

Để có thêm thông tin chính xác, khách quan giải đáp băn khoăn của độc giả, phóng viên đã gửi giấy giới thiệu kèm câu hỏi tới nhà trường. Ngày 6/8/2026, Tạp chí đã nhận được văn bản phản hồi từ phía Trường Đại học Y tế Công cộng.

ytcc-cong-khai-2.png
Ngày 23/7/2026, khi phóng viên truy cập website nhà trường tại mục “Ba công khai - Trường Đại học Y tế Công cộng - Năm 2026”, thì giao diện hiện ra là Báo cáo thường niên năm học 2024 - 2025. Ảnh chụp màn hình

Trong văn bản phúc đáp nội dung câu hỏi của phóng viên, Trường Đại học Y tế Công cộng cho hay, Báo cáo thường niên năm học 2025-2026 của nhà trường đã hoàn thành và được xác nhận trên hệ thống cơ sở dữ liệu về giáo dục đại học (Hemis) của Bộ Giáo dục và Đào tạo theo đúng thời gian quy định. Tuy nhiên, do có thông tin cần điều chỉnh và tổng hợp lại sau báo cáo Chuẩn cơ sở giáo dục đại học nên nhà trường sẽ điều chỉnh và cập nhật lại báo cáo trên cổng thông tin điện tử của trường trước ngày 10/8/2026.

Ngày 10/8/2026, khi truy cập vào website Trường Đại học Y tế Công cộng, phóng viên ghi nhận nhà trường đã đăng tải Báo cáo thường niên năm học 2026-2027.

ck-ytcc-2.png
Báo cáo thường niên năm học 2026-2027 của Trường Đại học Y tế Công cộng. Ảnh chụp màn hình

Dựa theo Báo cáo thường niên năm học 2024-2025, Trường Đại học Y tế Công cộng có tỷ lệ giảng viên có trình độ tiến sĩ đạt 46,27%.

Trong văn bản trả lời Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, nhà trường cho biết, tính tới thời điểm ngày 31/12/2025, tỷ lệ giảng viên có trình độ tiến sĩ của trường là 46,43%, số lượng ổn định so với năm học 2024-2025. Đây cũng là số liệu nhà trường đã cập nhật trong báo cáo thường niên năm học 2026-2027 ở bảng các chỉ số đánh giá về đội ngũ giảng viên toàn thời gian.

Tiêu chí 2.3, Thông tư số 01/2024/TT-BGDĐT về Chuẩn cơ sở giáo dục đại học quy định tỷ lệ giảng viên toàn thời gian có trình độ tiến sĩ: “Không thấp hơn 40% và từ năm 2030 không thấp hơn 50% đối với cơ sở giáo dục đại học có đào tạo tiến sĩ”.

Chia sẻ về chính sách thu hút và giữ chân nhân lực chất lượng cao, tiến tới tại 50% giảng viên có trình độ tiến sĩ vào năm 2030, đại diện nhà trường khẳng định: Trường Đại học Y tế Công cộng có quy định về chính sách thu hút nhân sự chất lượng cao tuyển dụng vào làm việc tại trường. Trong đó, giảng viên có trình độ tiến sĩ trở lên, đủ điều kiện, tiêu chuẩn được tuyển dụng được hưởng chế độ thu hút hàng tháng hoặc một lần.

Bên cạnh đó, nhà trường cũng có chế độ bổ sung thu nhập tăng thêm hàng tháng tương ứng với trình độ tiến sĩ và chức danh phó giáo sư, giáo sư nhằm duy trì đội ngũ giảng viên có trình độ tiến sĩ trở lên hiện có. Nhà trường cũng áp dụng chính sách đào tạo bồi dưỡng (cấp kinh phí đào tạo và triển khai nghiên cứu luận án cho giảng viên được cử đi học). Yếu tố giữ chân giảng viên có trình độ tiến sĩ không chỉ là thu nhập, đào tạo bồi dưỡng mà còn là môi trường học thuật thuận lợi với hơn 50 đề tài nghiên cứu các cấp mỗi năm và hợp tác quốc tế mạnh mẽ, cho phép giảng viên tiến sĩ phát triển sự nghiệp nghiên cứu độc lập.

Nhà trường cũng bố trí kinh phí để giảng viên trẻ có cơ hội làm chủ nhiệm đề tài cấp cơ sở. Đồng thời, áp dụng cơ chế thưởng công bố quốc tế theo chỉ số tác động IF của tạp chí, cùng với việc ưu tiên xét duyệt đi công tác, hội thảo quốc tế cho giảng viên có công bố tốt, cũng là công cụ giữ chân hiệu quả vì đáp ứng động cơ học thuật của người có trình độ tiến sĩ.

Hơn nữa, Trường Đại học Y tế Công cộng duy trì văn hóa nhóm nghiên cứu ổn định, có người dẫn dắt (PI) uy tín, để giảng viên trẻ được làm đồng tác giả, được dẫn dắt phương pháp luận và có cơ hội tiếp cận dữ liệu, tài trợ ngay từ đầu sự nghiệp, thay vì phải tự xây dựng mạng lưới từ số 0. Nhà trường cũng phổ biến chính sách miễn thuế thu nhập cá nhân đối với tiền lương, tiền công từ nhiệm vụ khoa học công nghệ có ngân sách nhà nước theo Nghị quyết số 193/2025/QH15 của Quốc hội về thí điểm một số cơ chế chính sách đặc biệt tạo đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.

Nhà trường khẳng định bố trí đủ 8% nguồn thu từ học phí chính quy để cấp học bổng cho người học

Trả lời câu hỏi của Tạp chí về tổng thu hoạt động của nhà trường năm 2025 so với năm học liền kề trước đó, văn bản phúc đáp của trường nêu, tổng thu hoạt động của trường năm 2025 đạt 239.569 triệu đồng; năm 2024 là 182.993 triệu đồng. Chênh lệch tăng là 56.576 triệu đồng (tức tăng 30% so với năm trước). Trong năm 2025, nguồn thu từ hoạt động nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ là 29.239 triệu đồng, chiếm 12% tổng thu của nhà trường.

Theo Báo cáo thường niên năm học 2026-2027, tổng thu hoạt động năm 2025 của Trường Đại học Y tế Công cộng là 239.569 tỷ đồng, trong đó thu khoa học và công nghệ là 29.239 tỷ đồng. Ảnh chụp màn hình
Theo Báo cáo thường niên năm học 2026-2027, tổng thu hoạt động năm 2025 của Trường Đại học Y tế Công cộng là 239.569 tỷ đồng, trong đó thu khoa học và công nghệ là 29.239 tỷ đồng. Ảnh chụp màn hình

Nhà trường có kế hoạch để gia tăng tỷ trọng nguồn thu khoa học và công nghệ hàng năm thông qua tăng cường đấu thầu các đề tài, dự án tài trợ (ngân sách nhà nước và tài trợ quốc tế), mở rộng dịch vụ khoa học công nghệ có thu phí dựa trên thế mạnh chuyên môn sẵn có là tư vấn đánh giá nguy cơ sức khỏe môi trường - nghề nghiệp, đánh giá tác động sức khỏe (HIA) cho doanh nghiệp và cơ quan quản lý, dịch vụ phân tích/quan trắc phơi nhiễm hóa chất theo tiêu chuẩn được công nhận, đào tạo ngắn hạn cấp chứng chỉ về nghiên cứu khoa học và xuất bản quốc tế. Nhóm dịch vụ này vừa tạo nguồn thu ổn định, vừa củng cố uy tín học thuật và mạng lưới đối tác của trường.

Theo Báo cáo thường niên năm học 2024-2025, nhà trường chi cho học bổng và hỗ trợ học tập là 1.13 tỷ đồng. Mức chi này chiếm 1,13% nguồn thu từ học phí, lệ phí từ người học của nhà trường.

Nghị định 66/2026/NĐ-CP Quy định chi tiết một số điều của Luật Giáo dục quy định các cơ sở giáo dục đại học công lập phải bố trí tối thiểu 8% nguồn thu học phí để cấp học bổng khuyến khích học tập cho người học.

Theo nhà trường, cơ sở tính mức chi học bổng và hỗ trợ học tập dựa trên nguồn thu học phí chính quy chứ không phải nguồn thu học phí của toàn trường. Trong năm học 2024–2025, nhà trường đã bố trí đủ tối thiểu 8% nguồn thu học phí hệ chính quy để cấp học bổng khuyến khích học tập theo quy định.

Sau khi tổ chức xét học bổng theo đúng tiêu chuẩn đối với từng ngành đào tạo, kinh phí thực tế chi trả tương đương chiếm 7,6% nguồn thu học phí hệ chính quy, do số sinh viên đủ điều kiện hưởng học bổng không sử dụng hết toàn bộ nguồn kinh phí trường đã bố trí.

Năm học 2025–2026, nhà trường tiếp tục bố trí tối thiểu 8% nguồn thu học phí hệ chính quy để cấp học bổng khuyến khích học tập theo đúng quy định hiện hành và thực hiện chi trả trên cơ sở kết quả xét học bổng của sinh viên đủ điều kiện.

Việc cấp học bổng khuyến khích học tập của nhà trường được thực hiện theo quy định tại Điểm c, Khoản 1, Điều 8, Nghị định số 84/2020/NĐ-CP ngày 17/7/2020 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Giáo dục. Theo quy định này, đối tượng được xét cấp học bổng khuyến khích học tập là sinh viên có kết quả học tập và rèn luyện từ loại khá trở lên và không bị kỷ luật từ mức khiển trách trở lên trong kỳ xét học bổng.

Trường đảm bảo cơ sở thực hành đối với các ngành đào tạo thuộc khối ngành Sức khỏe ra sao?

Thông tư số 54/2026/TT-BGDĐT ngày 30/06/2026 của Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định về chương trình đào tạo các trình độ của giáo dục đại học bổ sung điều kiện về cơ sở thực hành đối với 4 ngành đào tạo thuộc khối ngành Sức khỏe gồm: Kỹ thuật Phục hình răng; Kỹ thuật Xét nghiệm y học; Kỹ thuật Hình ảnh y học; Kỹ thuật Phục hồi chức năng, nâng số phòng thí nghiệm, thực hành bắt buộc từ 38 lên 51.

Theo thông tin tuyển sinh đại học chính quy năm 2026, Trường Đại học Y tế Công cộng tuyển sinh 6 ngành trình độ đại học hình thức chính quy, trong đó có 2 ngành Kỹ thuật phục hồi chức năng và Kỹ thuật xét nghiệm y học.

Năm 2026, Trường Đại học Y tế Công cộng tuyển sinh 6 ngành trình độ đại học hình thức chính quy, trong đó có 2 ngành Kỹ thuật phục hồi chức năng và Kỹ thuật xét nghiệm y học. Ảnh chụp màn hình
Năm 2026, Trường Đại học Y tế Công cộng tuyển sinh 6 ngành trình độ đại học hình thức chính quy, trong đó có 2 ngành Kỹ thuật phục hồi chức năng và Kỹ thuật xét nghiệm y học. Ảnh chụp màn hình

Chia sẻ việc đảm bảo cơ sở thực hành đối với các ngành đào tạo thuộc khối ngành Sức khỏe, văn bản phúc đáp của nhà trường nêu, theo Điều 12, Thông tư số 54/2026/TT-BGDĐT có quy định về điều kiện cơ sở vật chất đối với hoạt động đào tạo ngành Kỹ thuật Xét nghiệm y học, cơ sở đào tạo cần có các loại phòng thí nghiệm/thực hành gồm: Sinh học và di truyền y học mô phôi, Lý sinh, Sinh lý, Hoá học, Hoá sinh, Giải phẫu, Điều dưỡng cơ bản, Huyết học, Vi sinh, Ký sinh trùng, Sinh học phân tử, và Xét nghiệm tế bào.

Căn cứ các loại phòng thí nghiệm/thực hành hiện có của Trường Đại học Y tế Công cộng phục vụ đào tạo ngành Kỹ thuật Xét nghiệm y học, thì cơ sở vật chất của nhà trường đã đáp ứng đầy đủ. Trường cũng sẽ điều chỉnh, sắp xếp lại một số phòng cho đúng theo tên gọi/công năng của các phòng như quy định trong Thông tư.

Đối với ngành Kỹ thuật Phục hồi chức năng, nhà trường hiện đã có đầy đủ cơ sở vật chất, trang thiết bị và phương tiện cần thiết để bố trí, tổ chức các hoạt động thực hành theo chương trình đào tạo và theo yêu cầu tại Phụ lục III ban hành kèm theo Thông tư số 54/2026/TT-BGDĐT.

Hệ thống cơ sở thực hành của nhà trường bao gồm các phòng thực hành dành cho các học phần cơ sở ngành như giải phẫu, điều dưỡng cơ bản, sinh học di truyền,... và các phòng thực hành chuyên ngành phục vụ các học phần: Phương thức vật lý trị liệu, Vận động trị liệu, Hoạt động trị liệu, Ngôn ngữ trị liệu.

Các phòng thực hành được trang bị đầy đủ cơ sở vật chất để đảm bảo yêu cầu về chất lượng đào tạo cũng như phù hợp với số lượng sinh viên thực hành. Trong thời gian tới, ngành Kỹ thuật Phục hồi chức năng được dự đoán sẽ tiếp tục là ngành có nhu cầu đào tạo cao, vì vậy nhà trường sẽ tiếp tục đầu tư, bổ sung và nâng cấp các phòng thực hành để phù hợp với quy mô người học cũng như bảo đảm điều kiện thực hành, chất lượng đào tạo và đáp ứng nhu cầu của xã hội.

Mạnh Dũng